TÌNH BÁO NGOẠI GIAO QUA WIKILEAKS CÓ THỰC GÂY SỐC?

Chuyện tình báo - ngoại giao mà Wikileaks thực sự chẳng có gì mới đối với giới chính trị (ảnh: internet)

Có thể, với nhiều người thì những gì mà Wikileaks công bố là mới và sốc. Nhưng sự thật thì việc các cơ quan ngoại giao tham gia vào công tác tình báo chẳng có gì mới lạ trên thế giới, vấn đề chỉ là người ta chưa chính thức công nhận mà thôi.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton gọi hành động của Wikileaks là “tấn công thế giới“, một số nhận định còn cho rằng đây chính là một vụ 11-9 của ngành ngoại giao. Quả thực, đây là lần đầu tiên những thông tin hậu trường của ngành ngoại giao đã bị phơi bày trước công chúng. Lần đầu tiên, nhiều công chúng biết được các nhà ngoại giao cũng đi làm công tác tình báo. Chính vì thế, với nhiều người thì những gì Wikileaks công bố là rất sốc, rất mới.

Thế nhưng, khi những bức điện tín đầu tiên được Wikileaks công bố, dù nhiều lãnh đạo trên thế giới bị các nhà ngoại giao Mỹ nói đến với những ngôn từ không lấy gì làm đẹp đẽ, các nước cũng không có phản ứng gì nặng nề về mặt ngoại giao. Dẫu các nước có thể không hài lòng, nhưng Hoa Kỳ chưa gặp phải một chỉ trích nào đáng kể từ các chính phủ khác. Ngay cả Trung Quốc cũng chỉ lên tiếng mong muốn Hoa Kỳ nhanh chóng “xử lý vấn đề liên quan một cách thích đáng“.

Có vẻ như, các quốc gia còn cố chứng tỏ rằng họ đang cùng nhau đứng chung một chiến tuyến trước Wikileaks, ví dụ như Bắc Kinh thì nói rằng: “chúng tôi không muốn thấy bất kỳ sự xáo trộn nào trong quan hệ Mỹ – Trung“.

Dù tổng thống Pháp bị mô tả trong các bức điện tín là: “ông vua không quần áo” nhưng Paris chỉ nhẹ nhàng phản ứng: “Chúng ta sẽ phải rất lưu tâm và thống nhất ở cấp độ nhà nước để chống lại mối đe dọa đối với quyền dân chủ và chủ quyền“.

Nói một cách khác thì dù “không bằng lòng” nhưng các nước vẫn tỏ ra “bằng mặt”.

Không những thế, các quốc gia còn tỏ ra hết sức “đồng thanh đồng khí” khi cùng nhau chỉ trích Wikileaks và muốn đưa người sáng lập Wikileaks, ông Julian Assange ra tòa. Từ Nhật đến Pháp, Úc đều khẳng định sẽ hậu thuẫn cho Hoa Kỳ trong việc truy tố Julian Assange, người sáng lập trang Wikileaks, về tội làm lộ bí mật quốc gia. Trên các tờ báo lớn của châu Âu, người ta đều ghi nhận sự giận dữ của các chính phủ dành cho Wikileaks.

Tại sao có một phản ứng như thế từ các nước được xem là “nạn nhân” của giới ngoại giao Mỹ, bởi đối với các chính trị gia thì những gì mà Wikileaks công bố chỉ là một dạng “bí mật Polichinelle”, tức một thứ bí mật mà ai cũng biết. Từ lâu, chuyện các nhà ngoại giao làm công tác tình báo không có gì mới lạ, chính xác hơn thì ngoại giao và tình báo và hai lĩnh vực luôn gắn liền nhau.

Mặc dù, ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói Wikileaks “tấn công thế giới” nhưng người phát ngôn bộ ngoại giao Hoa Kỳ Philip J. Crowley thẳng thắng thừa nhận: “họ đại diện cho đất nước chúng tôi trên khắp thế giới và tham gia làm việc một cách công khai, minh bạch với đại diện của chính phủ nước ngoài. Thông qua quá trình này, họ thu thập thông tin để định hình chính sách và hành động của chúng tôi. Đây là những gì mà những nhà ngoại giao, của nước ta lẫn các nước khác, vẫn làm hàng trăm năm qua“. Phim ảnh Hollywood cũng thường xuyên cho thấy chính các cơ quan ngoại giao là điểm ra vào của các điệp viên, tình báo.

Sự thực là như thế, vì các cơ quan ngoại giao, các tổ chức hợp tác vẫn được dùng làm nơi tổng hợp thông tin tình báo. Sở dĩ các cơ quan ngoại giao được giao nhiệm vụ như thế vì họ là những đại diện hợp pháp nhất được tồn tại ở nước khác.

Bên cạnh đó, có những thông tin nhìn vào tưởng chừng hết sức bình thường nhưng với nhiều người thì nó rất có giá trị. Đó là lý do nhiều tổ chức tình báo mượn những vỏ bọc để làm công tác tình báo, thu thập những thông tin mà họ hiểu giá trị thực của nó. Đó cũng là sự khác biệt giữa những người làm công tác tình báo với người bình thường.

Trong những năm 1980, một phái đoàn các chuyên gia kinh tế Mỹ, có cả cựu chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang (FED) Alan Greenspan, đã đến Liên Xô với hình thức là chuyến tham quan có tính chất ngoại giao. Trong chuyến thăm ấy, phái đoàn Mỹ đã cẩn thận ghi chép lại những đánh giá về kinh tế của Liên Xô, dù những nơi họ đến do Liên Xô dẫn đi.

Những ghi chép đánh giá ấy đã trở thành thông tin quan trọng để tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Ronald Reagan quyết định thực hiện chương trình chạy đua vũ trang Chiến tranh các vì sao để “khích tướng” làm cho Liên Xô cũng phải chạy đua vũ trang khiến kinh tế kiệt quệ nhanh hơn nữa, khi kinh tế Liên Xô bắt đầu kiệt quệ.

Câu chuyện trên cho thấy những thông tin từ quan hệ ngoại giao cũng có giá trị như thế nào để đưa ra chính sách và hành động.

Chính phủ các nước đều hiểu tất cả những điều trên. Cho nên, có thể họ hơi buồn lòng vì bị nhận xét thế này thế kia nhưng sẽ chẳng bất ngờ chuyện các nhà ngoại giao làm công tác tình báo. Chính vì vậy, sự kiện Wikileaks  lần này chỉ mới và sốc đối với những người “ngoại đạo”, còn đối với ngoại giao quốc tế thì nó chỉ là bí mật mà ai cũng biết, chỉ là không nói ra. Cho nên, Wikileaks sẽ không gây nhiều ảnh hưởng sâu rộng trong quan hệ ngoại giao quốc tế. Tất nhiên, sự kiện này cũng để lại một cột mốc trong công tác tình báo và ngoại giao.

Ngô Minh Trí đăng trên Tuần Việt Nam ngày 02.12.2010

Advertisements

TRUNG – NGA BẮT TAY: CHỈ MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG

Lần "bắt tay" này của Trung - Nga chỉ mang tính biểu tượng là chính (ảnh: internet)

Không phải lần đầu tiên Nga và Trung Quốc cùng nhau tuyên bố phát triển giao thương, còn kết quả thực tế đạt được thì còn rất nhiều điều phải chờ xem.

Mới đây, Trung Quốc và Nga chính thức tuyên bố sử dụng đồng rúp và nhân dân tệ trong giao thương giữa hai nước, chứ không sử dụng đô la Mỹ. Đó có thể xem như một dấu ấn mới trong quan hệ hai nước, nhưng thực sự thì cú bắt tay tiền tệ Trung – Nga lần này chủ yếu chỉ có tính chất biểu tượng.

Quyết định trên của Trung Quốc không có gì là quá bất ngờ, bởi Bắc Kinh đang thể hiện rõ ý định muốn quốc tế hóa đồng tiền của mình. Trung Quốc đã liên tục mở rộng quan hệ tiền tệ trong thời gian qua. Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này còn có sẵn những bước chuẩn bị để mở rộng thị trường chứng khoán Thượng Hải nhằm gia tăng tính giao thương của nhân dân tệ trong giao dịch thường nhật của thị trường tài chính toàn cầu. Do đó, quyết định trên là một phần trong nỗ lực quốc tế hóa đồng tiền của Trung Quốc.

Tuy vậy mục tiêu của Trung Quốc và Nga không dừng lại ở đó. Thông tin trên tờ ChinaDaily có nói rõ mục tiêu của cú bắt tiền tệ này là nhằm đa dạng hóa loại tiền tệ dự trữ và hạn chế sự phụ thuộc vào đô la Mỹ, cũng như giảm bớt các chi phí quy đổi đô la Mỹ trong thương mại song phương.

Quyết định trên còn được xem như một bước tiến mới trong quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Nga.

Khách quan mà nói thì tất cả các mục tiêu trên của hai bên đề ra đều có thể đạt được, nhưng vấn đề đặt ra là các mục tiêu đó sẽ đạt được đến mức nào và có ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống tiền tệ toàn cầu?

Năm ngoái, tổng kim ngạch thương mại song phương Trung – Nga đạt được 38,8 tỷ đô la Mỹ, trong đó Nga xuất khẩu sang Trung Quốc đến 21,3 tỷ USD nên đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc là 3,8 tỷ USD. Năm nay, tổng kim ngạch thương mại song phương hai nước ước tính đạt 50 tỷ USD.

Nhìn vào những con số đó sẽ thấy rằng chẳng thấm vào đâu so với con số xuất khẩu hơn một 1.200 tỷ đô la Mỹ mỗi năm của Trung Quốc cũng như khoản dự trữ ngoại tệ lên đến 2500 tỷ đô la Mỹ.

Tuy Trung Quốc chưa bao giờ chính thức công bố đô la Mỹ chiếm bao nhiêu trong số 2500 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ đó, nhưng nhiều chuyên gia đều ước chừng con số là rất lớn, chiếm hơn 70% dự trữ.

Như vậy, việc Trung Quốc mở rộng thêm rổ tiền tệ dự trữ của mình bằng rúp Nga khó có được một tỷ trọng đáng kể.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp của Trung Quốc lẫn Nga không chỉ có quan hệ mua bán với đối tác hai nước mà còn có nhiều đối tác từ các quốc gia khác, nơi mà đô la Mỹ vẫn là phương tiện thanh toán phổ biến hơn. Thế nên, dù chính phủ mong muốn thì chưa hẳn các doanh nghiệp hai bên đã muốn sử dụng nhân dân tệ hay rúp để giao thương. Chính vì thế, cả Trung Quốc lẫn Nga có thể đa dạng loại tiền tệ dự trữ cho mình nhưng khoảng cách tỷ trọng giữa các loại tiền tệ sẽ khó có thể thu hẹp.

Ngoài ra, việc đa dạng hóa rổ tiền tệ dự trữ có thể tránh sự phụ thuộc quá mức vào một loại tiền tệ nhưng có thể bị tổn hại vì chính sách của nhiều quốc gia khác nhau. Mỗi định hướng đều có những nhược điểm của chúng, nên nếu không khéo thì cả Nga và Trung Quốc sẽ “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa“.

Về quan hệ thương mại song phương thì việc thỏa thuận tiền tệ này thực chất không có nhiều ý nghĩa. Bởi trở ngại lớn nhất trong quan hệ giao thương chính là các chính sách bảo hộ thương mại, và đây là những vấn đề không dễ dàng gì giải quyết.

Theo thống kê của Tổ chức Cảnh báo Thương mại toàn cầu (Global Trade Alert – GTA) thì Nga là nước đứng đầu trong danh sách các nước sử dụng nhiều biện pháp bảo hộ thương mại. Hơn nữa, quan hệ thương mại song phương của Nga và Trung Quốc lại không bền vững. Năm ngoái, kim ngạch thương mại song phương Trung – Nga đã giảm đột biến đến 32%, xuất khẩu Trung Quốc sang Nga giảm đến 47%. Vào tháng 01.2006, tổng thống Nga lúc đó là ông Putin từng hào hứng giới thiệu kế hoạch phát triển thương mại song phương  hai bên sẽ đạt 80 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010. Nhưng nay thì con số kỳ vọng chỉ còn 50 tỷ đô la Mỹ.

Nói như thế để hiểu rằng đây không phải là lần đầu tiên Nga và Trung Quốc cùng nhau tuyên bố phát triển giao thương, còn kết quả thực tế đạt được thì còn rất nhiều điều phải chờ xem.

Nhìn rộng hơn về tác động của quyết định trên đối với hệ thống tiền tệ toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rằng khả năng tạo ra một bước đột phá là không lớn. Đây đơn thuần chỉ là phát sinh thêm một thỏa thuận giao thương tiền tệ quốc tế, Nhật Bản hay châu Âu cũng đã từng làm điều này. Tuy vậy, cho đến giờ này thì Euro vẫn chưa thay thế nổi đô la Mỹ, trong khi nếu tính chung cả khối thì EU mới là nền kinh tế lớn nhất thế giới chứ không phải Mỹ.

Tiếp theo, thỏa thuận này cũng khó mở ra một hệ thống tiền tệ song phương mới bởi việc tính toán tỷ giá quy đổi song phương là không hề đơn giản nếu không sử dụng một loại tiền tệ quốc tế làm “mỏ neo” tham chiếu. Bằng chứng là tỷ giá giao dịch 4,6711 rúp ăn một nhân dân tệ lần này cũng được quy đổi từ đô la Mỹ.

Hơn thế nữa, giá trị tiền tệ của một quốc gia được tính toán dựa trên quan hệ giao thương với nhiều quốc gia, và để có được phép tính như thế là cực kỳ phức tạp.

Với tất cả các lý do trên, người ta không quá khó khăn để hiểu rằng hợp tác tiền tệ Trung – Nga lần này chỉ mang tính biểu tượng là chính, chứ không nhiều kỳ vọng lạc quan.

Ngô Minh Tríđăng trên Tuần Việt Nam ngày 28.11.2010

IPHONE VÀ KINH TẾ TRUNG QUỐC

Khi Apple hí hửng thì Foxconn, đơn vị gia công Iphone, vẫn còn đó những nỗi lo bởi họ không phải là chủ nhân của sự sáng tạo ra chiếc iphone. Ảnh chụp: nhà máy Foxconn ở TQ (ảnh: Reuters)

Khi Apple tiếp tục hớn hở với thành công vang dội từ iPhone 4, thì đơn vị trực tiếp gia công cho Apple tại Trung Quốc cũng đang vui vẻ với những đơn đặt hàng gia công, nhưng cái họ có được  vẫn chỉ những khoản “lấy công làm lời”.

Ngày 24.06 vừa qua, Apple chính thức bán ra iPhone 4. Trên tờ New York Times, AT&T, nhà mạng cung cấp iPhone 4 tại thị trường Mỹ, cho biết họ nhận được số lượng đơn hàng đặt trước dành cho iPhone 4 nhiều gấp 10 lần so với iPhone 3GS vào năm ngoái. Apple cũng cho biết họ đã xử lý đến 600.000 yêu cầu mua hàng trong ngày đầu tiên, chưa kể những đơn đặt hàng hệ thống khác. Apple tin rằng họ sẽ đạt được một kỷ lục mới và thực tế thì Apple đã nhanh chóng bán ra 1,7 triệu chiếc sau ba ngày chính thức bán ra iPhone 4.

Nhưng, người Mỹ sáng tạo ra iPhone và người Trung Quốc chỉ gia công. Người mua hàng thì bỏ nhiều tiền để mua sự sáng tạo của người Mỹ chứ không phải để mua thành quả sản xuất trực tiếp của Trung Quốc. Nên người Mỹ bán iPhone ra khắp thế giới để thu về lợi nhuận khổng lồ, thì Trung Quốc thì chỉ nhận được khoản “lấy công làm lời”.

Đã nhiều năm nay, với thế mạnh nhân công giá rẻ, Trung Quốc trở thành “ nhà xưởng của thế giới”, lấy đó làm nền tảng tăng trưởng kinh tế. Không riêng gì iPhone, Trung Quốc gia công tất tần tật sản phẩm cho các nước khác, từ gia công cho Sony, Panasonic của Nhật Bản đến Samsung, LG của Hàn Quốc hay Nokia của Phần Lan, Siemens của Đức… Trung Quốc tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc “lấy công làm lời” với số lượng gia công khổng lồ. Cứ như thế, Trung Quốc phát triển dựa trên việc gia công từ sự sáng tạo của những quốc gia khác.

Không chỉ sử dụng yếu tố nhân công giá rẻ, Trung Quốc còn sử dụng cả những thủ thuật như định giá tiền tệ thấp đi để tăng tính cạnh tranh. Và họ đã giảm thiểu tất cả mọi thứ để cạnh tranh, giảm đến mức mà thứ trưởng thương mại Chung Sơn từng chia sẻ rằng mức lợi nhuận biên trung bình của lĩnh vực xuất khẩu Trung Quốc chỉ có 2%. Tức giá trị gia tăng mà họ có được trong chuỗi giá trị của nền kinh tế là rất thấp. Điều này cũng không quá khó hiểu khi “hàm lượng” tri thức, sáng tạo trong nền kinh tế của họ chủ yếu bắt nguồn từ các nước phát triển, nên họ không được thụ hưởng giá trị thặng dư từ đó.

Thực ra, từ những năm 80 thế kỷ trước, cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ khởi xướng chiến lược nhập khẩu công nghệ lẫn tri thức để nâng cao trình độ công nghệ của Trung Quốc. Nhờ đó, Trung Quốc cũng đã dần nâng cao mặt bằng chung về trình độ khoa học kỹ thuật của mình. Nhưng để nhanh chóng có được những bước “đại nhảy vọt” thì họ vẫn cứ tập trung vào việc “lấy công làm lời” là nền tảng chung. Còn giá trị tri thức và sáng tạo đúng nghĩa trong ngành sản xuất vẫn rất thấp. Bằng chứng là những ngành công nghiệp mà Trung Quốc tập trung phát triển vẫn chưa có được giá trị riêng nào đáng kể.

Ví dụ như trong lĩnh vực ô tô, dù nhiều năm sử dụng chính sách bắt buộc các tập đoàn ô tô thế giới như Volwagen, BMW, Toyota, Honda… phải chia sẻ công nghệ thì xe hơi Trung Quốc vẫn đang rất vất vả đạt tiêu chuẩn để vào thị trường Mỹ. Đó là chưa kể tình trạng nhái mẫu mã xe hơi của các hãng phương Tây đến mức chóng mặt. Từ những chiếc xe cỡ nhỏ Mini Cooper, Smart đều bị Trung Quốc nhái đến cả những chiếc Roll Royce Phantom, Porsche Cayenne. Trung Quốc vẫn phải chờ những sáng tạo từ Mỹ và các nước khác để tiếp tục hành trình “kiếm tiền” của mình.

Như thế, Trung Quốc vẫn đang tăng trưởng với một nền sản xuất mà giá trị tri thức không phải của họ. Nhưng giá trị cốt lõi thực sự của kinh tế thế giới ngày nay là tri thức. Chính vì vậy, cái Trung Quốc đang cần hướng tới không phải là họ gia công bao nhiêu chiếc iPhone 4 cho người Mỹ, mà Trung Quốc cần sáng tạo ra được bao nhiêu sản phẩm đình đám giống như iPhone 4.

Ngô Minh Trí – đăng trên chuyên trang Tuần Việt Nam

GOOGLE ĐỨNG GIỮA XUNG ĐỘT MỸ – TRUNG

 

Trụ sở Google tại Trung Quốc (nguồn: internet)

Dù nguyên cớ nào đi nữa, xung đột thương mại hay mâu thuẫn chính trị, thì Google cũng đã trở thành đương sự bất đắc dĩ trong vụ lùm xùm hiện tại.

Nếu Google thực sự rút lui thì đây cũng không phải là lần đầu tiên một đại gia internet Mỹ phải tháo lui khỏi thị trường Trung Quốc đầy béo bở. Vài năm qua, nhiều tên tuổi như Yahoo, Flickr, Facebook, Twitter, YouTube … đã lần lượt rút lui khỏi thị trường Trung Quốc bằng những lý do khác nhau. Trong đó, tự nguyện ra đi vì không đồng ý bị kiểm duyệt cũng có, bị buộc phải đi vì bị chặn cũng có. Nhưng dù là lý do nào, sau đó người ta cũng thấy có ngay các doanh nghiệp Trung Quốc khác thay thế vị trí bỏ lại. Điển hình như YouTube thoái lui thì có Youku và Tudou nhanh chóng thay thế. Hay Tianya, Sina đã soán ghế của Twitter, WordPress, Blogger. Bababian Clone đã chiếm lĩnh người dùng của Flickr. Ren Ren Wang và Kai Xin Wang đã lấp đầy khoảng trống của Facebook và đang có đến 22 và 56 triệu người dùng.

Nay, khi Google cảnh báo khả năng rút khỏi thị trường này thì cổ phiếu của Baidu, công ty đối thủ của Google và cũng là công ty dẫn đầu với 60% thị phần tìm kiếm tại Trung Quốc, đã nhanh chóng tăng 16,6% trên sàn Nasdaq. Ăn theo có Sina và Sohu đang chiếm vị trí thứ ba và thứ tư tại Trung Quốc cũng tăng giá cổ phiếu đến 4,9% và 6,2%. Vì những diễn biến trên, nhiều người cho rằng việc Google phải rời khỏi thị trường Trung Quốc vốn dĩ là một tất yếu của kịch bản bảo hộ thương mại mà Trung Quốc sử dụng để giúp các doanh nghiệp trong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa. Theo đó, Google là nạn nhân mới nhất trong cuộc chiến thương mại giữa Trung – Mỹ.

Ở một diễn biến khác, khi những cuộc xâm nhập đầu tiên vào các tài khoản Gmail bị phát giác và tháng trước. Hoa Kỳ đã nhận thấy có một cuộc tấn công quy mô lớn trên internet nhằm vào các công ty Hoa Kỳ. Bởi có đến 34 công ty khác cũng là nạn nhân của đợt tấn công này, như: Yahoo, Adobe System, Juniper Networks, Northrop Grumman… Trong số đó có cả các công ty là các nhà thầu của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Nhiều cơ quan chính phủ và các công ty an ninh mạng hàng đầu của Hoa Kỳ đã vào cuộc điều tra.

Kết quả cho thấy, đây là một kế hoạch tấn công tổng lực với sự phối hợp mạnh mẽ, rất tinh vi và mọi chỉ dấu đều xoay về Bắc Kinh . Theo ông Eli Jellenc, người đứng đầu bộ phận tình báo trên không gian ảo của công ty VeriSign’s iDefense Labs chuyên về an ninh mạng, cho biết: “Thường thì người ta sử dụng một loại mã để tấn công một mục tiêu. Nhưng trong trường hợp này, họ sử dụng nhiều mã cho một mục tiêu, nhưng tất cả trong một chiến dịch tấn công. Đây là một bước tiến trong phối hợp đánh phá”. 

Ngoài ra, các cuộc tấn công đa phần nhằm vào các lỗ hỗng của các hệ thống quản lý cấp cao. Ông James A. Lewis, chuyên gia an ninh quốc gia trên internet tại Trung Tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế, khẳng định: “Đây là một chương trình gián điệp lớn nhằm nhận được thông tin công nghệ cao, các thông tin nhạy cảm chính trị giúp ích rất nhiều trong việc phát triển nhanh nền kinh tế cũng như sự đảm bảo sống còn cho chế độ chính trị của Trung Quốc”. Việc xâm nhập một số tài khoản Gmail cũng được cho là để phục vụ mục tiêu trên.

Như thế, cuộc tấn công như một diễn biến mới nhất trong xung đột Mỹ – Trung sau những va chạm trên không, trên biển Thái Bình Dương hay mâu thuẫn về Đài Loan. Giả thiết này xem ra cũng rất thuyết phục khi Trung Quốc được dự báo sẽ nhanh chóng vượt qua Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trong năm nay. Khi đó, việc tranh giành vị thế siêu cường dẫn đầu sẽ càng căng thẳng nên đây có thể xem là “bước chuẩn bị”.

Cuối cùng, dù cho nguyên nhân thực sự là xung đột chính trị hay bảo hộ thương mại. Thì Google cũng đã trở thành đương sự bất đắc dĩ trong cuộc xung đột giữa hai cường quốc. Có lẽ vì hiểu được “thân phận” của mình. Mới đây nhất, Google đã đánh tiếng sẽ không rời khỏi thị trường Trung Quốc và sẽ tìm cách thảo luận trở lại với chính phủ Bắc Kinh. Nếu Google nhún nhường hoàn toàn, xem như nguyên tắc “muốn làm ăn thì phải biết nghe lời” trở thành nguyên tác bất di bất dịch ở Trung Quốc dù là một “đại công ty” như Google.

Ngô Minh Trí – bài đăng trên Tuần Việt Nam

TƯ DUY BAN HÀNH LUẬT

nguồn: Tuanvietnam

Tại sao một số điều luật như quyết định 64 của thành phố Hồ Chí Minh phải tạm hoãn thực hiện. Bởi đó là vì chúng ta còn đang thiếu một hệ thống tư duy pháp luật làm nền tảng để nghiên cứu khi ban hành luật pháp.

Vai trò của luật pháp

Cuối năm ngoái, quyết định 33/2008/QĐ-BYT do Bộ Y Tế ban hành nhằm quy định “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới” không chỉ bị dư luật phản đối bởi các tiêu chí không thuyết phục, mà ngay cả Bộ Tư Pháp cũng “thổi còi” vì Bộ Y Tế không đủ thẩm quyền để tự mình ban hành.

Gần đây, Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch chính thức lên tiếng phản đối việc chính quyền thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cấm quảng cáo trên xe buýt trong khi Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch lại cho phép loại hình này.

Gần hơn nữa, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã phải tạm hoãn thi hành quyết định 64 về việc “quy hoạch” lại các cơ sở kinh doanh hàng nông sản, thực phẩm. Quyết định 64 bị tạm hoãn vì hai vướng mắc, thứ nhất là cơ sở phân định cửa hàng nào “văn minh tiện lợi” để được kinh doanh nông sản, thực phẩm. Thứ hai, chính quyền chưa có kế hoạch giải quyết đời sống cho những người không được phép tiếp tục kinh doanh ngành hàng trên khi họ đa phần là người nghèo.

Những hạn chế trong các điều luật trên lẽ ra không nên tồn tại bởi chúng không phải là những bất cập quá sâu xa. Chính xác hơn, những hạn chế ấy nên được các cấp ban hành đúc kết và tìm hướng giải quyết trước khi ban hành. Nếu giải quyết chưa được thì cần xem xét lại điều luật. Một bài học trong quá khứ là việc hủy bỏ quy định hạn chế xe máy chỉ sau vài năm có hiệu lực.

Trong thực tế, luật pháp có những ý nghĩa, giá trị và tác động khác nhau với các thành phần khác nhau.

Đối với cơ quan nhà nước, luật pháp chính là phương tiện quản lý xã hội. Tùy vào những mục tiêu quản lý khác nhau để ban hành những điều luật khác nhau. Việc quản lý không chỉ đơn thuần để “kiềm chế” hay “thắt chặt” mà còn tạo ra động lực phát triển cho xã hội khi xã hội vận hành hợp lý.

Đối với người dân và các đối tượng liên quan, các điều luật chính là cơ sở các quy tắc ứng xử, quan hệ. Mỗi đối tượng, tùy vào mức độ liên quan của mình đối với từng điều luật mà có cách hành xử tương ứng. Chính vì thế, sự ảnh hưởng của luật pháp có thể dẫn đến những tác động tích cực lẫn tiêu cực, từ đó trở thành động lực và cũng có thể trở thành cản lực của sự phát triển. Xa hơn, các điều luật có thể tạo ra những hệ quả lâu dài khác.

Với các đối tượng liên quan, chính những quy định trong điều luật là cơ sở để đánh giá ai vi phạm và ai không vi phạm. Cho nên, nếu các quy định này không được thể hiện chi tiết, thuyết phục thì không chỉ khiến cho lực lượng thực thi pháp luật lúng túng, mà còn có thể dẫn đến sai người sai tội, vô hình chung làm vô hiệu hóa giá trị cũng như mục tiêu của điều luật.

Từ những phân tích trên, ta có thể hình thành nền tảng tư duy ban hành luật với ba nhóm yếu tố cơ sở sau:

–         Mục tiêu, tính khả thi và cơ sở pháp lý của điều luật.

–         Ưu nhược điểm của điều luật.

–         Kế hoạch triển khai và cơ sở thi hành điều luật.

Mục tiêu, tính khả thi và cơ sở pháp lý của điều luật.

Mục tiêu. Như đã nói, mỗi điều luật được ban hành điều nhằm đạt được một mục tiêu quản lý và tạo động lực phát triển cho một vấn đề nào đó. Để đạt được mục tiêu đề ra, cấp ban hành luật cần thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến vấn đề. Dựa vào đó, cấp ban hành hình thành nên tổng thể để thiết kế điều luật.

Ngay trong phần này, nhiều lúc các cơ quan chức năng có thói quen lạm dụng luật pháp, khi ban hành những điều luật theo kiểu “thắt chặt” một cách không thuyết phục, hay cực đoan đến mức “quản không được thì cấm”. Chính quyền TP.HCM cấm quảng cáo trên xe buýt vì nói tình hình quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo ngoài trời, còn nhiều bất cập (như ảnh hưởng thuần phong mỹ tục), chưa thể quản lý hết. Ai cũng hiểu, quảng cáo trên xe buýt chỉ là một phần của quảng cáo ngoài trời, nên việc cấm nó chỉ vì  chưa quản lý được hoạt động quảng cáo ngoài trời thì có vẻ không thuyết phục. Lý luận cho rằng quảng cáo trên xe buýt là quảng cáo “động” cũng không ổn vì quảng cáo nào ngoài trời mà đối tượng là người đi đường thì nó đều có tính “động” như nhau. Cho nên, quy định cấm trên không chỉ tiêu cực khi xét về khoa học quản lý mà còn cấm sai đối tượng.

Để tránh rơi vào tình trạng trên, cấp ban hành nên mời các chuyên gia liên quan để cùng tham gia thực hiện các nghiên cứu một cách khoa học khi hình thành điều luật, nếu muốn điều luật thực sự thuyết phục. Nhiều người đang thắc mắc là dựa vào đâu mà bộ TT&TT đưa ra “mức trần” 3 sim mỗi người được sở hữu trên một nhà mạng và bộ này cũng chưa đưa ra nghiên cứu nào nhằm lý giải mức quy định sở hữu trên.

Tính khả thi. Không chỉ đạt mục tiêu mà tính khả thi của điều luật cũng là một khía cạnh cần nghiên cứu. Quy định hạn chế mỗi người chỉ sở hữu ba thuê bao điện thoại di động trên mỗi nhà mạng nhằm mục tiêu thắt chặt việc các nhà mạng cạnh tranh không lành mạnh bằng khuyến mãi, và đảm bảo chất lượng dịch vụ là một trường hợp cần bàn. Bởi chỉ cần các nhà mạng nới lỏng các quy định về việc hủy thuê bao thì nhanh chóng khiến cho điều luật trên bị vô hiệu hóa tức không còn khả thi.

Cơ sở pháp lý. Bao gồm:

–         Thẩm quyền của cấp ban hành. Khi điều luật được ban hành sai thẩm quyền thì không thể đạt mục tiêu thuộc thẩm quyền. Điển hình như Bộ Y Tế thì không có quyền tự mình đưa tiêu chuẩn sức khỏe cho người điều khiển phương tiện cơ giới mà cần phải thực hiện liên kết với Bộ Giao Thông Vận Tải. Bởi tiêu chuẩn sức khỏe chỉ là một thành phần trong yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông, vốn là trách nhiệm thuộc về bộ Giao Thông Vận Tải.

–         Cơ sở hiến pháp của điều luật. Đây là vấn đề mà đôi khi các cơ quan hữu quan mắc phải trong khi mọi điều luật đều phải dựa trên cơ sở của hiến pháp. Điều luật hạn chế sở hữu xe máy hay thuê bao điện thoại di động từng bị một số luật gia cho rằng không đúng hiến pháp khi hạn chế quyền sở hữu của người dân.

–         Có bất cập với các điều luật khác không. Các điều luật có thể nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau nhưng phải là một hệ thống thống nhất để xã hội vận hành. Không thể cấp chính phủ cho phép quảng cáo trên xe buýt mà cấp địa phương lại cấm dù không hề có một khác biệt nào liên quan mang tính địa phương. Đồng Nai bên cạnh TP.HCM vẫn cho phép quảng cáo trên xe buýt thì tại sao TP.HCM lại không cho phép.

Ưu nhược điểm của điều luật.

Khi luật pháp ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội, thì khó có điều luật nào được xem là hoàn hảo trọn vẹn, gần như mọi điều luật đều có những ưu và nhược điểm của nó. Cho nên, cấp ban hành cần phân tích các ưu nhược điểm của điều luật.

Từ đó, đánh giá chi tiết những tác động  của từng ưu nhược điểm và cho một đánh giá tổng thể nhằm đi đến quyết định có ban hành điều luật hay không. Nếu ban hành phải giải quyết các nhược điểm và hệ quả phát sinh  như thế nào.

Ví như quyết định 64 nhằm quy hoạch lại các điểm kinh doanh nông sản thực phẩm và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là cần thiết. Nhưng điều đó có thể gây ra những phiền toái trong sinh hoạt hằng ngày của người dân khi cần mua hàng. Thêm vào đó, những đối tượng không được tiếp tục kinh doanh đa phần là người nghèo thì cuộc sống của họ sẽ như thế nào. Nếu không giải quyết nhược điểm này, điều luật có thể đẩy một số người đến hoàn cảnh cùng khổ. Khi đó, những tiêu cực xã hội là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Ví dụ này còn cho thấy: nếu không cân nhắc ưu nhược điểm thì đôi khi điều luật nhanh chóng trở thành một bất cập gây xáo trộn xã hội.

Kế hoạch triển khai và cơ sở thi hành.

Khi điều luật được xem là cần thiết, khả thi và đã cân nhắc các ưu nhược điểm cùng cách giải quyết chúng thì kế hoạch triển khai và cơ sở thi hành cũng rất quan trọng.

Luật pháp là cơ sở cho xã hội vận hành thì không thể vội vã áp dụng mà cần phải có lộ trình phù hợp. Quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe máy có được thành công là nhờ vào lộ trình chuẩn bị hợp lý để xã hội sẵn sàng cho việc áp dụng điều luật.

Kế hoạch triển khai điều luật cũng cần gắn liền các hoạt động thực thi điều luật với các hoạt động giải quyết các nhược điểm, hệ quả phát sinh. Điển hình như khi cấm lưu hành xe cơ giới ba bánh thì trong lộ trình thực hiện cần tính đến thời gian cho việc thực hiện các hỗ trợ cho người hành nghề vận chuyển bằng phương tiện này.

Để điều luật đạt hiệu quả đòi hỏi các cơ sở quy định trong điều luật phải thuyết phục, chi tiết và rõ ràng. Bởi đó dựa vào đó, cấp quản lý sẽ phân định ai vi phạm và ai không vi phạm, ai đủ  tiêu chuẩn và ai không đủ tiêu chuẩn. Những phân định ấy sẽ tác động lớn đến các đối tượng liên quan và có khi phải trả giá bằng vật chất, thể xác lẫn tinh thần. Nếu tiêu chuẩn sức khỏe trong quyết định 33/2008/QĐ-BYT từng không thuyết phục vì thiếu tính khoa học thì quyết định 64 của TP.HCM lại thiếu hệ thống tiêu chí rõ ràng và chi tiết để phân định đâu là cửa hàng “văn minh tiện lợi”. Nên nếu quyết định trên được áp dụng thì cơ quan thi hành cũng khó thi hành.

Đó chính là nền tảng tư duy khi ban hành luật. Trong ba nhóm yếu tố đó, hai nhóm sau rất cần sự phản biện sâu rộng trong xã hội vì có những tác động mà một nhóm nghiên cứu hay cấp ban hành không thể thấy hết. Chính vì thế, vai trò của phản biện xã hội rất cần thiết khi ban hành luật pháp.

Ngô Minh Trí – đăng trên Tuanvietnam.net

THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU: CỞI TRÓI NHƯ THẾ NÀO?

Nguồn SAGA

Thay vì can thiệp một cách trực tiếp để điều tiết giá xăng dầu. Nhà nước nên xây dựng một cơ chế mới thông thoáng hơn để thị trường này đi đúng theo nguyên tắc thị trường tự do. Khi đó, những nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường sẽ giúp giá xăng dầu Việt Nam diễn biến theo đúng quy luật chung hơn là sự áp đặt như hiện tại.

Bù lỗ: lợi bất cập hại

Trong thời điểm mà tình hình lạm phát tăng nhanh, việc nhà nước bù lỗ cho các đơn vị nhập khẩu xăng dầu nhằm bình ổn là việc làm hết sức cần thiết. Bởi giá xăng dầu ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành nghề sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế. Nhưng cách làm trên, lẽ ra chỉ nên thực hiện vào những thời điểm “nước sôi lửa bỏng” hơn là trở thành một quy luật muôn thuở cho thị trường này. Bởi nếu đó là một quy tắc thường trực thì nó mang nhiều tác hại hơn là lợi ích.

Tác hại thứ nhất phải kể đến chính là việc các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu sẽ mất đi khả năng tính toán về việc đặt mua, tồn kho hay dự báo những diễn biến của thị trường. Bởi tâm lý được “bảo hộ” khiến họ không chịu những áp lực do thị trường biến động.

Khi đó, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này khó đạt kết quả tốt. Điều này cộng với bản chất độc quyền của nhóm doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu thì người tiêu dùng sẽ chính là người chịu thiệt cuối cùng, vì nhà nước cũng không thể “bảo hộ trọn gói”. Bằng chứng là thời gian qua, người dân liên tục phải chịu điệp khúc giá xăng “tăng nhanh giảm chậm” do phải chờ các đơn vị nhập khẩu “thanh lý” hết xăng cũ.

Khi xăng dầu ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực sản xuất và dịch vụ khác, nếu nó không theo kịp sự “cập nhật” với thị trường thế giới. Thì đâu đó nó cũng khiến cho nhiều doanh nghiệp liên quan mất đi khả năng “cập nhật” để điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến chung của thị trường thế giới. Đây là một dấu hiệu nguy hiểm khi mà doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với thị trường thế giới. Đó chính là một tác hại đáng kể đối với nền kinh tế.

Hiện nay, phần bù lỗ không phải là cho không vì sẽ được truy thu trở lại để trích trả ngân sách khi giá xăng dầu giảm xuống. Nhưng rõ ràng khi việc trích ngân sách để thực hiện bù lỗ trở thành một thông lệ thì vô hình chung ngân sách quốc gia lại phải luôn dự trù sẵn một khoản tiền không nhỏ. Trong khi đó, giá xăng dầu lại theo diễn biến của thế giới nên có thể xem là ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, tức khoản ngân sách trên cũng ngoài tầm kiểm soát của nhà nước. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách lại phải luôn sẵn sàng cho một khoản vô định

Cả ba tác hại trên đều tạo ra những bất ổn tiềm tàng lớn cho nền kinh tế thì rõ ràng ngành xăng dầu cần một cơ chế hoạt động khác. Cơ chế hoạt động tốt nhất vẫn là để nó thể hiện theo đúng những gì thị trường thể hiện.

Cơ chế mở cửa

Rất nhiều chuyên gia từng lên tiếng về việc mở cửa thị trường xăng dầu để tăng tính cạnh tranh, nhờ đó mức giá được phản ánh đúng với diễn biến thị trường hơn. Nhìn lại quyết định số 187/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế kinh doanh xăng dầu thì chúng ta có thể thấy quyết định này không hề “cấm cửa” các doanh nghiệp khác ngoài quốc doanh hay thể hiện tính độc quyền. Nhưng các điều kiện trong quy chế thì vô hình chung lại chưa “mở cửa”. Chính vì thế, nếu muốn “mở cửa” thị trường này cần phải có một số biện pháp “cởi trói” các quy định được xem là ngặt nghèo trong cơ chế trên.

Quy định về các điều kiện cầu cảng tiếp nhận, hệ thống kho bãi theo quy chế trên sẽ rất khó có doanh nghiệp nào có đủ tầm đáp ứng. Với một doanh nghiệp mới tham gia thị trường thì muốn đầu tư một hệ thống như thế không hề đơn giản. Hiện nay, nhà nước đang bắt đầu cổ phần hóa các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu.

Thế thì tại sao không nhân cơ hội này chuyển các hạ tầng cầu cảng, kho bãi về cho một đơn vị nhà nước quản lý và thực hiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu thuê sử dụng. Mức giá thuê sẽ được công khai và công bằng cho tất cả các nhà nhập khẩu.

Các doanh nghiệp nhập khẩu hiện tại sẽ cổ phần hóa và không còn quyền sở hữu đối với các kho bãi trên. Khi đó, các doanh nghiệp khác sẽ được dễ dàng tiếp cận lĩnh vực kinh doanh này hơn. Song hành với điều này là xây dựng một hệ thống kiểm soát về tiêu chuẩn xăng dầu nhập vào và tồn kho tại các cầu cảng, kho bãi. Cách làm này cũng tương tự với việc quản lý nhập khẩu và kiểm soát chất lượng của các ngành hàng khác.

Một quy định khác cũng đang làm khó các doanh nghiệp muốn tham gia nhập khẩu xăng dầu chính là việc phải có hệ thống cửa hàng và đại lý bán lẻ. Hệ thống phân phối này sẽ phải đăng ký và chịu sự quy hoạch của nhà nước. Chính vì thế, nếu một doanh nghiệp mới tham gia sẽ rất khó đáp ứng vì trong tình hình hiện tại sẽ khó phát triển một hệ thống phân phối mới, nếu phát triển được thì hệ thống phân phối cũng nhỏ nên doanh thu sẽ không cao. Như thế, kết hợp với yêu cầu về đầu tư cầu cảng, kho bãi thì chắc chắn không doanh nghiệp nào đủ “can đảm” tham gia thị trường.

Như vậy, một điều cần làm khác chính là chuyển đổi hệ thống phân phối trên trở thành một hệ thống phân phối độc lập. Hệ thống phân phối độc lập này sẽ chịu sự kiểm soát của các cơ quan liên ngành về các vấn đề an toàn cháy nổ, tiêu chuẩn chất lượng xăng dầu và độ chính xác trong cân đo nhằm đảm bảo quyền lợi khách hàng. Hệ thống này sẽ hoàn toàn tự chủ trong việc chọn nguồn hàng đầu vào cho mình mà không bị ràng buộc các quy định về đại lý như hiện tại.

Đối với các mục tiêu về an ninh quốc phòng hay ổn định xã hội liên quan đến xăng dầu. Nhà nước có thể xây dựng một chương trình dự trữ xăng dầu tương thích. Nhà nước có thể thực hiện một số quy định bắt buộc về việc tham gia dự trữ xăng dầu của các đơn vị nhập khẩu theo một tỷ lệ nhất định nhằm đảm bảo cho các hoạt động xã hội hay các hoạt động quốc phòng.

Khái quát hơn, tôi cho rằng cơ chế mở cửa ngành xăng dầu có thể tóm tắt trong các điểm sau:

1. Tách bạch các khâu: nhập khẩu, bán lẻ và các hạ tầng cũng như dịch vụ phụ trợ cần thiết như vận chuyển. Không gôm chung tất cả các khâu vào một để tạo rào cản gia nhập ngành.

2. Tiến hành xã hội hóa từng khâu nhưng tuân theo các yêu cầu về mặt đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn cháy nổ.

3. Tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu hiện tại và trả các hạ tầng kho bãi, cầu cảng về cho nhà nước khai thác, cho thuê. Về lâu dài, hoạt động này cũng nên thực hiện xã hội hóa

4. Tổ chức và quy hoạch hệ thống kinh doanh xăng dầu, tăng cường kiểm soát về tình hình thực hiện an toàn cháy nổ, tính trung thực của hệ thống này.

5. Thực hiện các chương trình đảm bảo về mặt an ninh quốc phòng và bình ổn xã hội liên quan đến xăng dầu như quỹ dự trữ xăng dầu.

Ngô Minh Trí – đăng trên tuanvietnam.net 

McNAMARA, SỰ NGHIỆP VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Robert Mc Namara ngày ấy (nguồn: Internet)

Là một người có được nhiều thành công trong các vị trí công việc khác nhau, cũng là người có thời gian đảm nhiệm lâu nhất vị trí bộ trưởng Bộ quốc phòng Hoa Kỳ từ trước đến nay. Nếu không có những sai lầm trong chiến tranh Việt Nam khiến cho uy tín bị giảm sút, có lẽ Robert McNamara đã có một sự nghiệp hoàn hảo hơn.

Sự nghiệp lẫy lừng

Những gì Robert McNamara đạt được trong sự nghiệp của mình trước khi chính thức trở thành bộ trưởng bộ quốc phòng Hoa Kỳ là một thành tích mà không được mấy người có thể có được.

Năm 1939, khi chỉ 23 tuổi, McNamara đã có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh của Đại học Harvard danh tiếng. Sau đó một năm, McNamara chính thức giảng dạy tại đại học Harvard cho đến khi nhập ngũ vào năm 1943. Đến năm 1946, McNamara xuất ngũ và làm việc tại tập đoàn xe hơi Ford.

Chỉ 14 năm sau đó, McNamara được Henry Ford đệ nhị nhường ghế chủ tịch tập đoàn và trở thành người đầu tiên không thuộc dòng họ Ford lãnh đạo tập đoàn này. Nhưng McNamara chỉ đảm nhiệm công việc này trong khoảng  năm tuần thì trở thành người lãnh đạo của Lầu Năm Góc trong chính phủ của Tổng thống tân nhiệm lúc bấy giờ là Kennedy.

Thực ra, khi đắc cử Tổng thống, John F. Kennedy đã mời bộ trưởng tiền nhiệm Robert A Lovett, bộ trưởng bộ quốc phòng thời tổng thống Eisenhower, tiếp tục đảm nhiệm vị trí này. Thế nhưng, Robert A Lovett từ chối và đề cử McNamara thay mình. Trước bản thành tích ấn tượng của Robert McNamara, Tổng thống Kennedy đã cho ông đến hai lựa chọn trong chính phủ của mình bằng việc chọn lựa vị trí bộ trưởng Bộ Ngân Khố hoặc Bộ Quốc Phòng. Lẽ ra, Robert McNamara chọn làm Bộ trưởng Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ thì phù hợp với những gì ông từng đạt được trước đó hơn là thử thách mình ở lĩnh vực quân sự.

Không có nhiều kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực quốc phòng, nhưng McNamara bằng khả năng nhạy bén của mình đã tỏ ra “học việc” khá nhanh và nhanh chóng có những kế hoạch cải tổ cổ máy quân sự lớn nhất thế giới này. Bằng tất cả những kỹ năng quản lý có được, Robert McNamara đã kiến tạo nên một hệ thống quản lý bài bản trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và cũng là người thực hiện nên chiến lược quốc phòng mới cho Hoa Kỳ. Trong đó, việc áp dụng các khả năng của máy tính điện tử vào công việc quản lý Bộ Quốc Phòng đã làm nên những bước tiến đáng kể.

Không chỉ thế, McNamara còn được xem là người đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết khủng hoảng tên lửa Cuba vào năm 1962. Dường như quan điểm của McNamara trong cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô lúc bấy giờ khá ôn hòa. McNamara luôn cho rằng Hoa Kỳ và Liên Xô nên đạt được sự đồng thuận hơn là đối đầu căng thẳng. Cũng từ lý do đó, McNamara đã cực lực chống đối kế hoạch thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa trên lãnh thổ Mỹ lúc bấy giờ. Ông cho rằng có hai lý do để không nên thực hiện kế hoạch trên. Thứ nhất, kế hoạch trên tiêu tốn quá nhiều tiền. Thứ hai, ông cho rằng kế hoạch trên chỉ phản tác dụng nhiều hơn. Bởi khi Hoa Kỳ thiết lập hệ thống này thì chắc chắn vì lý do chạy đua vũ trang, Liên Xô cũng xây dựng một hệ thống tương tự. Khi đó, về bản chất thì đây chỉ là một cuộc tăng cường vũ khí hạt nhân.

Bằng tất cả những gì mình làm được, McNamara trở thành người lãnh đạo lâu nhất trong lịch sử Bộ Quốc Phòng Mỹ khi đảm nhiệm chức vụ này gần tám năm qua hai đời Tổng thống John F.Kennedy và Lyndon B. Johnson. Thế nhưng, lẽ ra McNamara còn đảm nhiệm vị trí bộ trưởng này lâu hơn nữa nếu không có những áp lực chính trị do những hệ quả của chiến tranh Việt Nam tạo ra. Khi ông được xem là kiến trúc sư trưởng cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Trong vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, McNamara đã tỏ ra rất tích cực thúc đẩy sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Số lượng cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã tăng lên đáng kể khi từ con số vài trăm đã nhanh chóng nhảy lên 17.000 vào năm 1964.

Tháng 8 năm 1964, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, McNamara đã phát động những hành động can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ vào Việt Nam bằng các đợt không kích của không quân. Hai chiến dịch không kích là Mũi Tên Xuyên (tháng tám 1964) và Sấm Rền (đầu năm 1965). Tiếp theo đó, McNamara tiến hành cuộc can thiệp quân sự sâu rộng vào Việt Nam bằng những chiến dịch quân sự quy mô tăng nhanh cùng số lượng lính Mỹ tại Việt Nam.

Số lính Mỹ đã tăng nhanh đột biến khi đó với con số lên đến 485.000 quân vào năm 1967. Không chỉ thế, McNamara còn sử dụng những kỹ thuật công nghệ tân tiến để thiết lập hàng rào điện tử McNamara nhằm ngăn cản bước tiến của bộ đội miền Bắc. Song hành theo đó chính là những chiến dịch đánh phá quyết liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, đến những ngày cuối cùng của mình trên cương vị người đứng đầu Lầu Năm Góc, McNamara đã nhận ra chiến lược tại Việt Nam của ông ẩn chứa quá nhiều bất ổn. Cũng lúc đó, chiến dịch Tổng tiến công của bộ đội Bắc Việt Nam vào Tết Mậu Thân 1968 giáng một đòn nặng nề vào quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. Từ đó, những chia rẽ trong lòng nước Mỹ về cuộc chiến Việt Nam càng thêm sâu sắc. Đó là một áp lực lớn khiến cho McNamara phải từ chức.

Năm 1968, sau khi từ nhiệm Bộ Quốc Phòng, Robert McNamara tiếp nhận chức chủ tịch Ngân hàng Thế Giới đến năm 1981. Sau đó, ông làm việc và cố vấn cho các tập đoàn, quỹ từ thiện, trường đại học…

Người làm nước Mỹ sa lầy

Bằng những kỹ năng quản lý cùng mớ kiến thức đồ xộ về thống kê trong kinh doanh cũng như những am hiểu về khoa học kỹ thuật. McNamara đã tiếp cận cuộc chiến Việt Nam theo cách quen thuộc mà ông từng làm khi tái cấu trúc bộ máy quốc phòng Mỹ hay các công việc quản lý, điều hành trước đó tại tập đoàn Ford.

Phân tích những chiến lược chính của McNamara chúng ta có thể thấy đã tiềm ẩn những thất bại ngay từ ban đầu.

McNamara dùng các công cụ về thống kê để đánh giá tình hình chiến trường, đó là việc thống kê số lính chết trận, vũ khí thu được và tỷ lệ các khu vực đang chiếm đóng. Đó là một sai lầm trầm trọng vì sự ủng hộ khá lớn từ phía dân chúng đã tạo nên một cuộc chiến tranh du kích ngay chính trong lòng miền Nam chứ không phải một chiến tuyến rạch ròi của vĩ tuyến 17. Chính vì thế, có rất nhiều khu vực tuy Mỹ và miền Nam Việt Nam đang chiếm đóng nhưng chúng không hoàn toàn được quản lý bởi lực lượng này. Khi đó, thống kê những khu vực như thế không có ý nghĩa để phản ánh tình hình chiến sự. Thêm vào đó, sự gia tăng số lượng và vũ khí của bộ đội Bắc Việt Nam cũng là một yếu tố mà miền Nam Việt Nam và Mỹ chưa giải mã chính xác nên xem như việc lấy mẫu của thống kê đã thất bại. Như thế mới thấy, cách đánh giá tình hình cuộc chiến qua những biểu đồ thống kê là vô nghĩa.

McNamar lại lún vào một sai lầm khác khi sử dụng không quân để đánh bom miền Bắc và đường mòn Hồ Chí Minh như một phương án phá vỡ hậu phương. Đó là sai lầm thứ hai. Bởi nền kinh tế miền Bắc lúc bấy giờ chỉ là nông nghiệp chứ không phải nền kinh tế công nghiệp. Miền Bắc Việt Nam lúc đó chưa phải là nước Đức hay các nước đồng minh tại châu Âu trong Thế Chiến Thứ Hai để mà đánh phá cơ sở công nghiệp. Đó là chưa kể, nguồn lực chủ yếu của miền Bắc là dựa vào viện trợ của các đồng minh trong khối XHCN. Ngoài ra, việc ném bom một khu vực như đường Trường Sơn hay dựng nên hàng rào điện tử cũng khó có thể cản bước tiến của bộ đội Bắc Việt Nam. Đó là một cuộc chiến tranh du kích.

Hai sai lầm trên khiến cho người Mỹ khó có được những ưu thế trên chiến trường. Trong khi đó, về mặt chính trị thì cuộc chiến đã dần gây chia rẽ ngay trong lòng nước Mỹ. Ngay cả trong lòng xã hội Mỹ, McNamara cũng đã không lường hết những phản ứng về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Chiến lược chính của McNamara là đẩy mạnh sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam mà bỏ qua vai trò của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ. Vô hình chung, điều đó khiến cho cuộc chiến Việt Nam trở thành một cuộc chiến của Hoa Kỳ nhiều hơn là cuộc chiến giữa hai miền Việt Nam. Điều đó sẽ có hại nhiều hơn lợi đối với Mỹ về mặt chính trị của cuộc chiến. Vì lẽ đó, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày càng tỏ ra yếu ớt  và đó cũng là căn nguyên dẫn đến sự suy thoái ngày càng nghiêm trọng của chính phủ này. Cho nên, khi Hoa Kỳ chuyển qua sách lược Việt Nam hóa chiến tranh thì việc thất bại là điều tất yếu. vào năm 1973, khi Mỹ gần như rút toàn bộ lực lượng tại Việt Nam sau hiệp định Paris thì gần như lực lượng miền Nam Việt Nam không đủ sức tổ chức một cuộc hành quân quy mô lớn nào và chỉ đếm đến ngày 30 – 04 – 1975 để kết thúc cuộc chiến.

McNamara đã tính toán rất tốt những yếu tố hữu hình nhưng những nhân tố vô hình thì không. Công trình chiến tranh Việt Nam  do McNamara dựng nên về bản chất đã bị thất bại từ năm 1968 vì khiến người Mỹ sa lầy vào cuộc chiến nên ngay nội bộ nước Mỹ đã không còn đồng tình với cuộc chiến. Chính vì thế, bước ngoặc 1968 đã báo hiệu cho việc rút quân của Hoa Kỳ tại Việt Nam là tất yếu, đó cũng là chủ đề để Nixson tranh cử tổng thống năm đó. Và cuộc chiến Việt Nam đã trở thành lời cảnh báo cho tất cả các đời tổng thống Hoa Kỳ sau đó khi có những hành động can thiệp quân sự.

Ngô Minh Tríđăng trên Tuanvietnam.net