Ý: NGUY CƠ MỚI CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Bất đồng giữa Thủ tướng Berlusconi (phải) với Bộ trưởng Tài chính Giulio Tremonti đang rất căng thẳng là một mối lo của kinh tế Ý (ảnh: Internet)

Trong khi châu Âu vẫn đang lẩn quẫn trong cơn khủng hoảng nợ công tác động tiêu cực đến thị trường tài chính thế giới, thì cơn khủng hoảng nợ công lại đang có dấu hiệu lan sang Ý, nền kinh tế lớn thứ tư châu Âu.

Chứng khoán Mỹ tuột dốc vì châu Âu

Theo New York Times, cổ phiếu tại Hoa Kỳ giảm xuống, tiếp bước cùng thị trường toàn cầu, vì lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ của khu vực Eurozone. Tại thị trường Hoa Kỳ cũng như châu Âu và châu Á, nhà đầu tư bị tác động dồn dập bởi những dữ liệu kinh tế yếu kém và các nhà quan chức châu Âu phải tiếp tục gặp nhau tại Brussels, Bỉ, để thảo luận về những khó khăn tài chính của khu vực Eurozone.

Hôm thứ hai 11.07.2011, chỉ số Dow Jones đã giảm đến 151,44 điểm, tương đương 1,2%, xuống còn 12.505,75 điểm. Chỉ số Standard & Poor’s 500 giảm 24,31 điểm, tương đương 1,81%, xuống còn 1.319,49 điểm. Tương tự như thế, chỉ số Nasdaq còn 2.802,62 điểm, tức giảm 57,19 điểm – tương đương 2%.

Cổ phiểu các tập đoàn lớn của Mỹ đã giảm giá đáng kể, đặc biệt là các tập đoàn trong lĩnh vực tài chính. Citigroup giảm 5,3% xuống còn 39,79 đô la Mỹ, JPMorgan Chase giảm 3,2% xuống còn 39,43 đô la Mỹ, Banks of America giảm 3,27% xuống còn 10,35 đô la Mỹ. Một số cổ phiếu thuộc các lĩnh vực khác cũng lao dốc theo: Google mất 0,89% còn 527,28 đô la Mỹ, Alcoa giảm 2,87% còn 15,91 đô la, Caterpillar giảm 2,04% còn 108,06 đô la, Boeing giảm 2,29% còn 73,35 đô la… Tính rộng hơn trên thị trường toàn Hoa Kỳ, cổ phiếu các công ty tài chính hầu hết giảm 3%, trong khi các công ty năng lượng và vật liệu giảm 2%.

Tất nhiên, thị trường chứng khoán châu Âu cũng giảm điểm không kém. Thị trường chứng khoán Milan (Ý) giảm 3,8%, chỉ số FTSE tại Luân Đôn giảm 1,03%, chỉ số CAC của Pháp giảm 2,71%, chỉ số DAX tại sàn Frankfurt giảm 2,33%. Tất cả tạo nên một bức tranh u ám trên thị trường tài chính cả thế giới.

“Con bệnh” Ý: nguy cơ của kinh tế toàn cầu

Kể từ khi cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu nổ ra, mặc dù Ý là một quốc gia có tỷ lệ nợ công khá cao nhưng vẫn được xem là nền kinh tế an toàn hơn rất nhiều so với những “hàng xóm” nợ nần chồng chất cạnh mình.

Từng có nhiều lý do để người ta tin rằng Ý rất khó để đổ vỡ. Theo The Economist, nếu Tây Ban Nha được xem là “quá lớn để đổ vỡ” thì cuộc khủng hoảng nợ toàn diện nếu xảy ra với Ý sẽ là một cơn đại hồng thủy. Moises Naim, chuyên gia cao cấp của chương trình kinh tế quốc tế thuộc Carnegie Endowment ở Washington, nói rằng: “Ý quá lớn để đổ vỡ. Nếu Ý thực sự “dính bệnh” vì lây lan bởi những quản lý chính trị yếu kém, nó không chỉ đe dọa khu vực Eurozone mà còn đe dọa toàn cầu”. Thật vậy, Ý có ảnh hưởng khá lớn đối với thị trường tài chính toàn cầu. Quốc gia hình chiếc ủng này là nền kinh tế lớn thứ tám trên thế giới, thứ tư châu Âu và là thứ ba trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu. Ý cũng là thị trường trái phiếu lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Ngoài ra, kinh tế Ý cũng có nhiều điểm vững vàng hơn nhiều nền kinh tế khác ở châu Âu để có được niềm tin cho giới đầu tư. Các ngân hàng Ý nhìn chung khá vững mạnh và không sa lầy trong việc đầu cơ vào bong bóng bất động sản, thâm hụt ngân sách quốc gia cũng chỉ 4,6% GDP.

Thế nhưng, tình trạng khủng hoảng nợ công nay không còn giới hạn trong những nền kinh tế nhỏ như Hy Lạp, vốn đang bên bờ phá sản, mà đang dần lan sang những nền kinh tế lớn nhất của Eurozone. Thời thế đã thay đổi, các nhà đầu tư nay chuyển mối quan ngại sang các nền kinh tế có nợ công cao, tăng trưởng chậm và ẩn chứa những bất ổn chính trị.

Và Ý chính là một nền kinh tế “thỏa mãn” tất cả các điều kiện trên. Tỷ lệ nợ công của Ý là 120% GDP, tức cao thứ nhì khối Eurozone – chỉ sau Hy Lạp, với số nợ lên đến 1900 tỷ.  Lãi suất tăng đã làm cho nền kinh tế Ý phát triển chậm chạp, không đủ bù đáp cho khoảng nợ công khổng lồ. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng nền kinh tế Ý sẽ tăng trưởng rất thấp, chỉ khoảng 1,3% vào năm 2012. Hơn thế nữa, nội bộ chính trị nước này đang bất ổn khi bất đồng giữa thủ tướng Berlusconi với bộ trưởng tài chính và cũng là đối thủ chính trị lâu năm của ông Berlusconi là Giulio Tremonti đang rất căng thẳng. Ông Giulio Tremonti còn đang rắc rối với cáo buộc liên quan đến tham nhũng, rắc rối mà được Massimo Giannini, biên tập viên về kinh doanh của La Repubblica, nhận định là: “Tôi nghĩ ông ấy không thể vượt qua scandal lần này”. Nếu sinh mệnh chính trị của ông Giulio Tremonti kết thúc thì nền kinh tế Ý sẽ gặp khá nhiều rủi ro khi ông được xem là người bảo hộ duy nhất cho chính sách tài chính thận  trọng của Ý.

Với sự “thỏa mãn điều kiện” như thé, Ý đang tiếp bước Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong chuỗi domino nợ nần.  Tháng trước, Standard & Poor’s đã hạ thấp xếp hạng tín nhiệm tín dụng của Ý. Nay thì lãi suất trái phiếu thời hạn 10 năm của Ý đã tăng lên mức kỷ lục là 5,67%, biên độ chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu thời hạn 10 năm của Ý với Đức đã lên  thành 2,36 điểm phần trăm, cao nhất kể từ khi ra đời đồng Euro đến nay. Daniel Gros, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách châu Âu tại Brussels, nhận xét: “Ý đang ở trong vùng nguy hiểm, đó là điều quá rõ ràng hiện nay

Tuy vậy, nếu Ý thực sự tiếp bước Hy Lạp thì đây có thể là tai họa cho thế giới. Eurozone đã tỏ ra đối phó khá chật vật với cuộc khủng hoảng của Hy Lạp, một nền kinh tế chỉ chiếm 2% trong khối, thì với nền kinh tế lớn thứ ba của khối là một thảm họa thực sự. Ngoài ra, các ngân hàng châu Âu đang nắm giữ đến 998,7 tỷ Euro nợ của Ý, gấp sáu lần số nợ các ngân hàng này đang nắm giữ đối với Hy Lạp. Các ngân hàng Mỹ cũng nắm giữ đến 269 tỷ Euro nợ của Ý. Cho nên, Ý đổ nợ thực sự là một cơn “đại hồng thủy” thật sự, có thể càn quét kinh tế toàn cầu.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 15.07.2011

Advertisements

“CHÚNG TÔI ĐÃ LẠC LỐI”

News of the World (NoW), tuần báo lá cải số một của xứ sở sương mù, đã phải ngậm ngùi phát hành số báo cuối cùng sau 168 năm hoạt động. Trong ấn bản cuối cùng đánh số 8674, NoW đã chạy dòng chữ lớn trên trang nhất là “Cám ơn và tạm biệt” và giải thích kết cục của mình rằng: “Rất đơn giản, chúng tôi đã lạc lối”.

Sự lạc lối của NoW chính là việc tờ báo này, có thể vì áp lực của thị trường, đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng về mặt pháp luật lẫn đạo đức, khi xâm nhập lén điện thoại của một cô gái bị sát hại và gia đình các binh sỹ tử nạn ở Trung Đông. Đó chính là kết quả của việc khai thác quá đà đời tư người khác hòng thu hút độc giả.

Ngày nay, báo chí lá cải đang tồn tại như một phần không thể thiếu trên thị trường báo chí. Thị trường báo chí Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên và một số báo có xu hướng lá cải của Việt Nam cũng đang quá đà trong việc khai thác thông tin như các báo lá cải khác của thế giới, đặc biệt là thông tin đời tư.

Trước đây, một phóng sự đề cập đến việc một số chàng trai, ngồi trong các quán cà phê có các nữ phục vụ ăn mặc “thoáng mát”, đã đánh cược với nhau về nội y của các nữ phục vụ có màu gì. Kết quả được xác định bằng một cách nào đó, chẳng hạn như cúi xuống nhặt tờ báo khi các cô gái đi ngang qua. Khi ấy, nhiều người đã chỉ trích hành động trên là thiếu tư cách đạo đức. Thế nhưng, hiện tại, hành động tương tự như thế đang được nhiều báo có xu hướng lá cải trong nước sử dụng để chộp những khoảnh khắc hớ hênh của những người trong giới showbiz. Nói một cách khác, nhiều báo lá cải đang hút khách bằng những hành vi phi đạo đức.

Đáng tiếc hơn nữa, một số báo lá cải đang thu hút độc giả mạnh nhất hiện nay lại là nhánh con của những báo mạng đã từng có nhiều tin, bài phân tích sắc sảo về một số vấn đề lớn. Không những thế, cách đặt tựa, làm tin của các “phụ bản” lá cải đang xâm nhập cả vào các “chính bản”. Hiện tượng đó có thể làm xuống cấp chất lượng báo chí nước nhà, trong khi báo chí vốn dĩ được xã hội tôn trọng, coi như một món ăn tinh thần.

Chính vì thế, ngay từ bây giờ, ban biên tập các tờ báo cần thức tỉnh để tránh tình trạng “lạc lối” chạy theo xu hướng lá cải. Đó còn là sự đảm bảo để không xảy ra những trường hợp nghiêm trọng như câu chuyện của News of the World của nước Anh.

Hoàng Đìnhđăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 14.07.2011

CÁI KHÓ CỦA TÂN TỔNG GIÁM ĐỐC IMF

Tân tổng giám đốc của IMF từ tháng 07.2011 (ảnh: Internet)

Con đường lên vị trí Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) không quá khó khăn với bà Christine Lagarde, nhưng những thách thức mà bà phải đối mặt khi lèo lái IMF thì khó khăn hơn nhiều.

Mặc dù cuộc tuyển chọn tổng giám đốc mới của IMF, thay thế ông Dominique Strauss Kahn, được nói là: “cởi mở, dựa trên phẩm chất và sự minh bạch”, nhưng chẳng có nhiều lý do để nghi ngờ việc bà Christine Lagarde, Bộ trưởng Tài chính Pháp và từng lãnh đạo một công ty luật hàng đầu thế giới, ngồi vào chức vụ trên. Liên minh châu Âu, chiếm một phần ba phiếu bầu trong hội đồng quản trị của IMF, đã đoàn kết hậu thuẫn cho bà ngay khi bắt đầu cuộc cạnh tranh.

Các thị trường mới nổi cũng đã mong muốn có một tổng giám đốc IMF không phải là người châu Âu nhưng đã không tập hợp được xung quanh đối thủ duy nhất của bà là ông Agustin Carstens, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mexico. Ngay cả Trung Quốc cũng lên tiếng hậu thuẫn cho bà Chritine Lagarde. Cho nên, chỉ cần Hoa Kỳ ủng hộ nữa là đủ để bà Christine Lagarde trở thành tổng giám đốc thứ 11 và là nữ tổng giám đốc đầu tiên của IMF. Tiền lệ tổng giám đốc IMF là người châu Âu lại tiếp tục được duy trì.

Thế nhưng, mọi thứ chỉ mới là bắt đầu và nhiều thử thách đang chờ đón bà Christine Lagarde phía trước.

Không giống như những người tiền nhiệm của mình, bà Lagarde tiếp nhận chức vụ khi mà chính châu Âu đang là “khách hàng” lớn nhất của IMF. Việc thiết lập và duy trì tính độc lập của bà đối với những bộ trưởng tài chính của các nước châu Âu khác, vốn là những người từng kề vai sát cánh với bà và sự hỗ trợ của họ đóng vai trò quan trọng để bà có được vị trí công việc trên, sẽ trở thành nhiệm vụ khó khăn hơn so với những người tiền nhiệm của bà.

Thử thách trên sẽ là một tiêu chuẩn để xác định xem bà Lagarde có thành công hay không trong việc hoàn thành tầm nhìn mà bà vạch ra trong phát biểu chính thức đầu tiên khi bà nhậm chức. Bà Lagarde đã đưa ra bốn tuyên bố quan trọng đó là: “sự liên quan, khả năng đáp ứng, hiệu quả và hợp pháp”.

Trong hai tuyên bố đầu tiên là sự liên quan và khả năng đáp ứng thì không có gì khó khăn. Hiện tại, IMF đã thể hiện được vai trò trung tâm trong các cuộc khủng hoảng tài chính chứ không còn lờ mờ như khi cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra. Nói một cách khác thì IMF đã thể hiện được “Sự liên quan” của mình đối với tình hình chung của kinh tế thế giới. Ngoài ra, các khoản đóng góp của các thành viên đã lớn hơn gấp ba lần so với khả năng cho vay của quỹ này trước khủng hoảng, vượt qua con số 750 tỉ đô la Mỹ. IMF đã đáp ứng nhanh chóng cho 22 quốc gia kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra và các điều kiện để cung cấp tài chính cũng trở nên linh hoạt hơn.

Với hai tuyên bố còn lại thì không hề đơn giản. Mục tiêu liên kết sự hiệu quả với tính hợp pháp sẽ phụ thuộc vào mức độ mà IMF, dưới thời bà Lagarde, có thể và sẵn lòng hành động độc lập với các cổ đông lớn nhất của IMF. Để là một định chế tài chính hiệu quả, IMF cần nói rõ với các chính phủ thành viên về những sự thật khó khăn trong chính sách kinh tế. Nhưng để các nước thành viên thấu hiểu thì họ phải tin vào sự khách quan của IMF.

Đây là thách thức đáng kể vì các thành viên ít tiền hơn trong IMF vẫn luôn cho rằng IMF bị chi phối bởi quan điểm của các thành viên nhiều tiền hơn. Để thay đổi được khúc mắc đó, Lagarde phải thể hiện được sự gương mẫu. Khủng hoảng nợ của khu vực Eurozone là thách thức lớn nhất để bà Lagarde vượt qua được rào cản trên. Nhiều nền kinh tế mới nổi khó chịu khi IMF đã cho các thành viên khối Eurozone vay quá nhiều tiền nhưng lại ít hào phóng đối với các thành viên không thuộc khối Eurozone. Điển hình như IMF đã cho Hy Lạp vay số tiền nhiều gấp 24 lần đóng góp của nước này vào IMF, tỷ lệ này đối vớiUkrainehayPakistanchỉ là bảy lần. Số tiền 77 tỉ Euro (tương đương 111 tỉ đô la Mỹ) mà IMF dành cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha lớn gấp đôi tổng số tiền mà IMF dành cho 19 chương trình của các quốc gia thành viên không thuộc khối Eurozone. Các chỉ trích cho rằng điều đó chẳng khác gì một sự tập trung bất thường nguy cơ vào một khu vực riêng lẻ.

Vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nếu Hy Lạp không đáp ứng được các thỏa thuận với IMF và châu Âu không đồng thuận với con đường phía trước. Khi đó, bà Lagarde sẽ phải đẩy mạnh hơn quan điểm của IMF trong các cuộc đàm phán với các thành viên của khối EU, vốn là những đồng nhiệm cũ của bà, có thể là cả sự tranh luận về việc Hy Lạp nên tái cấu trúc nợ hơn là thắt lưng buộc bụng. Bà Lagarde có thể sẽ phải đối đầu với những người từng ủng hộ mình tại châu Âu.

Một thử thách mà tân tổng giám đốc của IMF sẽ phải giải quyết đó là các nền kinh tế mới nổi muốn một tỷ lệ biểu quyết tương xứng với đóng góp của họ trong quỹ. Các quốc gia nhưTrung Quốc,Brazil, Ấn Độ và Nga có ít phiều bầu hơn so với sức mạnh kinh tế của họ. Để giải quyết được vấn đề này, bà Lagarde phải thuyết phục được các quốc gia như Bỉ và Hà Lan nhượng lại một số phiều bầu, vốn dĩ nhiều hơn sức mạnh kinh tế của họ, cho các nền kinh tế mới nổi. Đây là một điều rất khó đạt được.

Ngô Minh Trí (theo The Economist) – đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn 08.07.2011

CÁC NGÂN HÀNG ÚC: AN TOÀN NHƯNG YẾU THẾ

Ngân hàng Quốc Gia Úc (National Australia Bank) cũng đang gặp nhiều thách thức (ảnh: internet)

Trong lúc thị trường tài chính châu Âu đang lao đao trong khủng hoảng nợ công thì các ngân hàng Úc được xem như một nơi trú ẩn an toàn hơn, nhưng các ngân hàng Úc lại đang tỏ ra lép vế trước các đối thủ nước ngoài ngay tại thị trường nội địa.

Chốn an toàn giữa cơn nguy biến

Theo Bloomberg, các nhà đầu tư trái phiếu, đang tìm một nơi trú ẩn an toàn sau những gì diễn ra tại châu Âu, nhìn nhận các ngân hàng Úc an toàn hơn các đồng nghiệp tại châu Âu, bất chấp bốn ngân hàng hàng đầu của Úc đã bị Moody’s hạ mức tín nhiệm tín dụng vào tháng trước.

Trong khi cơn khủng hoảng nợ công của Hy Lạp nói riêng và khối Eurozone nói chung tạo nên cơn địa chấn làm ảnh hưởng toàn bộ hệ thống ngân hàng châu Âu, thì các ngân hàng Úc tỏ ra an toàn hơn, vì họ không phải là những chủ nợ đáng kể của Hy Lạp. Đó là lợi thế của các ngân hàng Úc khi so sánh với các ngân hàng của châu Âu, điển hình như hệ thống ngân hàng Pháp đầu tư đến 56,7 tỷ đô la Mỹ tại Hy Lạp, theo dữ liệu từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cuối năm 2010. Cũng theo báo cáo của BIS, trái phiếu chính phủ Hy Lạp được giữ bởi ngân hàng các nước có giá trị lên đến 54,2 tỷ USD, 96% trong số đó là các ngân hàng châu Âu.

Mark Mitchell, đứng đầu bộ phận tín dụng của quỹ đầu tư Kapstream Capital đang quản lý khoảng 3,9 tỷ đô la Úc (tương đương 4,1 tỷ đô la Mỹ), đã nhận xét rằng: “ngân hàng Úc đã tiếp xúc rất hạn chế với nợ công của Hy Lạp và các quốc gia ngoại vi khác của châu Âu, điều đó giải thích tại sao các ngân hàng Úc tốt hơn về sau. Các nhà đầu tư đang quan tâm nhiều về tình cảnh của Hy Lạp cũng như những ảnh hưởng tiềm tàng”.

Hơn thế nữa, 70% doanh thu của các ngân hàng Úc đến ngay từ chính nước Úc, nền kinh tế có mức tăng trưởng được dự báo sẽ vượt qua Hoa Kỳ và châu Âu trong năm tới. Theo ước tính của Blooberg, nếu như kinh tế của khu vực sử dụng đồng Euro được dự báo tăng trưởng 1,9% trong năm nay và 1,65% trong năm sau, hay Hoa Kỳ là 2,6% cho năm 2011 và 3% trong năm 2012, thì Úc được dự báo sẽ tăng trưởng 2,8% trong năm nay và 4% vào năm sau. Tức triển vọng của nền kinh tế Úc đang tỏ ra rất tươi sáng so với nhiều nền kinh tế lớn khác. Đô la Úc cũng đang mạnh lên rất nhiều khi tăng giá đến 20% so với đô la Mỹ trong 12 tháng qua.

Ngân hàng nội địa gặp khó

Những triển vọng tươi sáng của hệ thống tài chính Úc cùng với lợi nhuận biên trong lĩnh vực cho vay cao hơn đáng kể so với các khu vực khác của châu Á, khiến cho các ngân hàng nước ngoài tìm cách chia phần trên thị trường Úc. Hơn thế, áp lực đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng của Úc cũng tạo nên sức hấp dẫn cho các ngân hàng. Một số thông tin cho rằng Úc cần đến 400 tỷ đô la Mỹ để phát triển cơ sở hạ tầng trong mười năm tới.

Lĩnh vực ngân hàng Úc đang trở nên cạnh tranh hơn bởi cuộc đua của các ngân hàng châu Á và châu Âu. Khoảng 10 ngân hàng lớn của nước ngoài đang chờ giấy phép hoạt động tại Úc, trong đó gồm có Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, ngân hàng Giao thông Trung Quốc, Ngân hàng Bilbao Vizcaya Argentaria của Tây Ban Nha, ngân hàng Baroda và ngân hàng Liên minh của Ấn Độ…

Một số quy định về thanh khoản tạo sức ép khiến cho các ngân hàng nội địa phải cắt giảm cho vay, các quy định này lại không áp dụng cho các ngân hàng nước ngoài trong nhiều trường hợp. Từ đó, một tác động tương hỗ ngược lại khiến cho các ngân hàng nội địa càng chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ hơn từ các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là ưu thế về vốn của các ngân hàng nước ngoài.

Tình hình thiếu nguồn quỹ càng phức tạp hơn đối với các ngân hàng nội địa của Úc, vốn có số tiền gởi chỉ chiếm 60% nhu cầu vốn hàng năm, các ngân hàng Úc cho vay lẫn nhau lên đến 110 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.

Bên cạnh đó, hoạt động của các ngân hàng nước ngoài càng thuận lợi hơn nhờ vào sắc thuế mới. Chính phủ Úc sẽ thực hiện cắt giảm một nửa thuế lợi tức vào năm 2015 đối với các ngân hàng phát triển nguồn quỹ từ nước ngoài.  Việc giảm thuế là một lợi thế lớn cho các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, các công ty trên khắp thế giới, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, đang nối đuôi nhau để mua than đá, quặng, và các khoáng sản của Úc.

Cho nên, khi có được giấy phép hoạt động chi nhánh tại Úc, các ngân hàng nước ngoài có thể tăng cho vay đối với các công ty nước ngoài đang phát triển tại Úc. Các ngân hàng nước ngoài đang xếp hàng để cho vay thương mại, thực hiện các phi vụ mua lại xuyên biên giới, cho vay để xây dựng cơ sở hạ tầng với các doanh nghiệp đồng hương của họ. Ví dụ như tập đoàn phát triển cơ sở hạ tầng và năng lượng của Ấn Độ là GVK đang phải đàm phán với ngân hàng Standard & Chartered và ngân hàng lớn thứ hai của Ấn Độ là ICICI nhằm có được khoản tài trợ trị giá 1,3 tỷ USD để mua lại hai mỏ than tại Úc.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 30.06.2011

HÀNG TRUNG QUỐC GIÁ RẺ: KẾT THÚC Ở MAY MẶC, MỞ RA NƠI MÁY TÍNH

Triển lãm Computex 2011 tràn ngập hàng điện tử Trung Quốc giá rẻ (ảnh: ban tổ chức Computex)

Kết thúc một giai đoạn

Trên báo The Economist, ông Bruce Rockowitz, giám đốc điều hành của Li & Fung, đã nhận xét rằng “Kết thúc thời hàng hóa giá rẻ”. Li & Fung là nhà cung cấp quần áo và các sản phẩm gia dụng phổ biến sản xuất theo đơn hàng từ châu Á cho các hệ thống siêu thị ở phương Tây. Trong lĩnh vực công nghệ thấp mà Li & Fung nổi tiếng, công ty này mua khoảng 4% giá trị xuất khẩu của Trung Quốc để xuất sang Mỹ cùng với một mức độ đáng kể sang châu Âu. Li & Fung hoạt động tại một số nước Đông Á, thường xuyên tìm kiếm các nhà cung cấp hàng giá rẻ và đáng tin cậy, từ túi xách đến những chiếc ghế cao dành cho quầy bar. Cho nên, khi Bruce Rockowitz nói rằng kỷ nguyên hàng hóa giá rẻ của châu Á sắp kết thúc thì ý kiến của ông được nhiều người tin.

Ông Bruce Rockowitz cho rằng nền sản xuất châu Á đã trải qua một số giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 30 năm. Khi Trung Quốc đang đóng cửa dưới thời Mao Trạch Đông, các công ty Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc đã trở nên thành thục trong lĩnh vực sản xuất. Khi Trung Quốc mở cửa vào cuối những năm 1970, các nhà điều hành doanh nghiệp đầy kinh nghiệm của châu Á đã tập trung về miềnNamTrung Quốc. Nhờ được tiếp cận dễ dàng với đất đai và lao động, cùng với cảng biển và trung tâm hậu cần hiệu quả gần Hongkong, họ bắt đầu sản xuất ra những hàng hóa rẻ hơn bao giờ hết và bán chúng ra khắp thế giới.

Trong ba mươi năm tiếp theo, các nhà sản xuất Trung Quốc đã giữ cho lạm phát toàn cầu được kiềm chế. Nhưng giờ đây, Bruce Rockowitz nghĩ rằng giai đoạn đó đã kết thúc. Tiền lương ở Trung Quốc đang tăng rất nhanh. Một làn sóng nhu cầu mới, đặc biệt từ chính Trung Quốc, đang làm cho giá cả hàng hóa tăng đột biến.

Các nhà sản xuất có thể tìm kiếm sự thay thế bằng cách di chuyển sản xuất đến một khu vực mới, như phía Tây của Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Malaysia, Ấn Độ và Indonesia. Nhưng ông Bruce Rockowitz dự báo, không có nơi nào trong các khu vực mới có thể kiềm chế lạm phát được như thời phíaNamcủa Trung Quốc từng làm được. Nhiều nơi trong số đó có mức lương đang tăng và hệ thống hậu cần kém cỏi. Không ai có thể cung cấp sự quy mô và hiệu quả như từng được tạo ra khi các nhà sản xuất tập trung về phía Nam Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của một giai đoạn mới

Tuy nhiên, ý kiến của Bruce Rockowitz  có thể không sai nhưng nó không phản ánh tình hình chung cho tất cả các ngành hàng khác của Trung Quốc. Hàng hóa giá rẻ có thể không còn trong lĩnh vực may mặc và sản phẩm gia dụng nhưng lại đang tăng trong lĩnh vực khác, nhất là sản phẩm công nghệ cao.

Trong ngày 31.05.2011, ngày mà Bruce Rockowitz phát biểu tại Hongkong về việc hóa giá rẻ đã kết thúc, thì cuộc triển lãm hàng năm Computex diễn ra tại Đài Bắc, từ ngày 31.05 đến 04.06.2011, đã thể hiện một tình hình khác. Triển lãm Computex đã nhiều người quan tâm đến mức các khách sạn tại Đài Bắc chật kín, dù giá cả tăng cao.

Trong khi những đại gia hàng đầu trong làng công nghệ thế giới như Apple, hay HTC của Đài Loan đều vắng mặt thì có đến 2000 nhà cung cấp đem đến các thiết bị công nghệ tân tiến giá rẻ, rất nhiều trong số đó đến từ Trung Hoa Đại Lục. Các doanh nghiệp đến từ Trung Hoa Đại Lục đã phô trương thanh thế khi thuê đến 500 gian hàng, tăng từ con số 200 của năm trước. Nhiều công ty đến từ cùng các địa phương vốn nổi bật nhờ vào đồ chơi và sản phẩm dệt may giá rẻ.

Nhiều công ty sản xuất thiết bị công nghệ cao của Trung Quốc đã gây chú ý bằng các sản phẩm siêu rẻ, như BananaU cung cấp máy tính bảng chạy hệ điều hành Android với giá chỉ 100 USD, hay máy tính xách tay dùng hệ điều hành Window có thiết kế giống Macbooks với giá dưới 250 USD.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ham muốn tìm hiểu bất cứ sản phẩm nào mà chi phí sản xuất thấp  hoặc dễ dàng tự động hóa để sản xuất chúng. Nay khi chi phí nhân công tăng cao,  họ đã học cách sản xuất nhiều hơn với ít nhân công hơn. Với sự khuyến khích của chính phủ, vành đai kéo dài từ Thâm Quyến đến Quảng Châu chuyển sang các sản phẩm tinh vi hơn, như sản phẩm điện tử.

Sự phát triển này đã giúp cho các nhà sản xuất hàng công nghệ cao giá rẻ của Trung Quốc đẩy mạnh tốc độ sao chép mẫu mã lẫn tính năng của các sản phẩm công nghệ cao của các thương hiệu nổi tiếng thế giới.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 23.06.2011

SỰ NỔI LÊN CỦA NHÂN DÂN TỆ

Hongkong đã trở thành phòng thí nghiệm trong chương trình quốc tế hóa NDT của Trung Quốc (ảnh: internet)

Trung Quốc đang đẩy nhanh chương trình quốc tế hóa Nhân dân tệ (NDT) để tăng vị thế trên thị trường thế giới, nhưng điều đó có thể tạo ra tác dụng ngược.

Quốc tế hóa mở đường tăng giá Nhân dân tệ

Theo hãng tin Bloomberg, Trung Quốc có thể mở rộng biên độ tỷ giá NDT – Đôla Mỹ  lên thành +/-1% so với mức giá ấn định hàng ngày. Hiện tại, biên độ mà Trung Quốc đang cho phép biên độ chỉ là 0,5%. Nhiều chuyên gia cho rằng mở rộng biên độ, từng bước nâng giá NDT là biện pháp mà Trung Quốc đối phó với áp lực lạm phát. Đó có thể là nguyên nhân trực tiếp, nhưng về lâu dài là do Trung Quốc đang quốc tế hóa NDT.

Theo báo Wall Street Journal, Thống đốc Ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên đã thuyết phục các lãnh đạo nhà lãnh đạo nước này rằng Trung Quốc cần phải quốc tế hóa NDT cho tương xứng với vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Bắc Kinh đã cho phép sử dụng NDT trong các giao dịch xuất nhập khẩu từ tháng 07.2009. Thống đốc Chu cũng không ngừng nỗ lực để NDT có mặt trong  rổ tiền tệ SDRs (Special Drawing Rights), loại tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mà các quốc gia có thể dùng để dự trữ. Tuy nhiên, để NDT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs, Trung Quốc phải thả nỗi tỷ giá đồng tiền theo cung cầu của thị trường.

Thực tế, nỗ lực quốc tế hóa NDT của Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ. Giá trị giao dịch ngoại thương bằng NDT trong quý một năm nay đã là 360 tỷ NDT (tương đương 55 tỷ đô la Mỹ), bằng 7% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Theo dự báo của Standard Chartered thì giá trị giao dịch bằng NDT có thể chiếm đến 20% tổng giá trị ngoại thương của nước này vào năm 2015.

Hongkong: Phòng thí nghiệm chính sách

Kết quả quốc tế hóa NDT của Trung Quốc đạt được rõ nhất tại đặc khu Hongkong. Các doanh nghiệp và cá nhân ở Hongkong có thể giao dịch trực tiếp NDT một cách dễ dàng. Khoảng 30% giao thương toàn cầu của Trung Quốc được thực hiện thông qua Hongkong nên những nới lỏng về việc sử dụng NDT đã khiến cho NDT chảy vào tài khoản của các ngân hàng Hongkong ngày một nhiều hơn.

Vào ngày 30.04 vừa qua, tiền gởi bằng NDT trong các ngân hàng Hongkong đã đạt 511 tỷ NDT (tương đương 79 tỷ đô la Mỹ), tăng khoảng tám lần so với giai đoạn đầu năm 2010. Nhiều người dân Hongkong đang chuyển dần một phần của cải sang NDT vì họ tin rằng NDT sẽ tăng giá trong thời gian tới. Wall Street Journal đã trích dẫn ý kiến của nhà đầu tư 35 tuổi David Lau cho rằng: “Rõ ràng, tôi nghĩ NDT sẽ tăng giá. Tôi có một số tiền mặt và tôi không muốn nó bị hoa tổn đi vì lạm phát”. Vì thế, David Lau luôn giữ khoảng 10 đến 15% tiền gởi trong ngân hàng của mình bằng NDT.

Vị thế của NDT tại Hongkong đang ngày càng thể hiện rõ nét hơn. Năm ngoái, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã lần đầu tiên phát hành trái phiếu bằng NDT tại Hongkong. Một số công ty khác như McDonald’s Corp, Caterpillar INC cũng đã làm điều tương tự. Đây là một thay đổi đáng kể, vì trước đó chỉ có các ngân hàng và cơ quan chính phủ của Trung Quốc mới thực hiện điều này. Nhiều chuyên gia đã từng nhận định rằng Bắc Kinh đang từng bước quốc tế hóa NDT bằng cách chuyển đổi dần việc thanh toán tiền tệ trên sàn chứng khoán Hongkong từ đô la Hongkong sang NDT, tạo nền tảng để khi Thượng Hải phát triển thành trung tâm tài chính hàng đầu thế giới vào năm 2020, đồng NDT cũng sẽ có lưu lượng giao dịch mạnh mẽ hơn.

Tác dụng ngược?

Đồng NDT được sử dụng rộng rãi trong thương mại và đầu tư quốc tế có thể thách thức vị thế thống trị của đô la Mỹ, điều chỉnh sự mất cân đối đang làm lung lay kinh tế toàn cần và buộc người Mỹ phải thắt lưng buộc bụng.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng việc quốc tế hóa nhanh chóng NDT có thể tạo ra những hậu quả ngoài ý muốn cho Trung Quốc. Yu Yongding, cựu cố vấn cao cấp của Ngân hàng trung ương Trung Quốc, cho rằng đẩy mạnh giao dịch bằng NDT tạo ra các tác động xấu. Theo ông Yu, nhà đầu tư bên ngoài chấp nhận NDT vì tin rằng tiền tệ này sẽ lên giá trong thời gian tới, cho nên họ mua NDT để dự trữ chứ không dùng nó để mua lại hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc. Khi đó, Trung Quốc lại tiếp tục nhận lại ngoại tệ, kho dự trữ ngoại tệ sẽ ngày càng phình to hơn, làm cho Trung Quốc lậm sau hơn vào “bẫy dự trữ đô la Mỹ”.

Các nhà phân tích ước tính khoảng 80% giao dịch ngoại thương bằng NDT là do các doanh nghiệp Trung Quốc thanh toán hàng nhập khẩu, làm giảm lượng ngoại tệ chảy ra khỏi Trung Quốc. Theo ông Mark Williams, kinh tế gia tại Capital Econimic, nguyên nhân trên đã đóng góp 40 tỷ đô la Mỹ, tương đương 20%, vào dự trữ ngoại tệ Trung Quốc trong quý một vừa qua. Như vậy, cảnh báo của Yu Yongding về nguy cơ của việc quốc tế hóa tiền tệ quá nhanh là có thật. Ông Yu Yongding cũng nói thêm rằng quốc tế hóa tiền có thể làm tăng dòng tiền nóng đầu cơ, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 09.06.2011

NHẬT BẢN HỒI PHỤC SAU THIÊN TAI: NHỮNG THỬ THÁCH LỚN

Thị trường chứng khoán khởi sắc, nhờ những dự báo tăng trưởng sản lượng sản xuất, đã không đủ sức làm cho các hãng xếp hạn ko hạ tín nhiệm tín dụng đối với Nhật Bản (ảnh: Reuters)

 Sau cơn thiên tai kép vào 03.2011, Nhật Bản kỳ vọng sẽ có những bước phục hồi mạnh mẽ nền kinh tế bị suy thoái. Thế nhưng, thực tế đang đặt ra cho Nhật Bản nhiều thử thách lớn, nếu không muốn nói là nan giải.

Rủi ro tiềm ẩn

Người Nhật đã nhanh chóng nhận được những tín hiệu đáng mừng về sự phục hồi sau cơn thiên tai kép ngày 11.03.2011. Sản lượng công nghiệp tháng 04.2011 đã tăng lên và các nhà sản xuất Nhật Bản đã tỏ ra rất hào hứng lập kế hoạch đẩy mạnh sản xuất để năn suất sản xuất trong tháng năm và tháng sáu sẽ nhanh chóng đạt mức trước thiên tai. Theo Reuters, mặc dù dữ liệu về sản xuất cho thấy sản lượng sản xuất của Nhật Bản chỉ tăng 1% trong tháng tư, thấp hơn so với mức dự báo trung bình của các nhà kinh tế là 2,8%, nhưng kế hoạch của các nhà sản xuất đề ra một sự phục hồi nhanh chóng từ mức sụt giảm kỷ lục là 15,5% do hậu quả trực tiếp của cơn thiên tai. Theo số liệu của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, các nhà sản xuất Nhật Bản dự báo mức tăng của sản lượng sản xuất là 8% trong tháng năm và 7,7% vào tháng sáu. Một số kinh tế gia còn cho rằng Nhật Bản sẽ phục hồi nhanh chóng. Nhật xét trên Reuters, Kyohei Morita, kinh tế gia trưởng tại Barclays Capital Nhật Bản, cho rằng: “Từ tháng năm, một sự phục hồi theo hình chữ “V” có thể bắt đầu và sản lượng đầu ra có thể vẫn tăng trong suốt tháng bảy và tháng tám với tốc độ tương tự như những dự đoán cho tháng năm và tháng sáu”.

Tuy nhiên, sự lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Nhật Bản trong dài hạn đã bị kiềm lại bởi sự lo ngại tình trạng mất điện sẽ diễn ra trong giai đoạn cao điểm là mùa hè, cũng như những bất đồng chính trị giữa các đảng phái có thể trì hoãn các chương trình chi tiêu xây dựng. Kyohei Morita cũng có lo ngại này khi nói: “Một rủi ro là những gì các chính trị gia sẽ làm trong tháng sáu. Nếu họ tổ chức một cuộc bầu cử bất ngờ, điều đó sẽ trì hoãn gói ngân sách mở rộng lần hai”. Hãng xếp hạng tín nhiệm tín dụng Moody’s cũng có cùng nhận xét: “Chính phủ dự định giới thiệu một chương trình cải cách thuế toàn diện vào tháng sáu. Tuy nhiên, sự chia rẻ trong nghị viện Nhật Bản và sự tăng cường mức độ thử thách chính trị đối với thủ tướng Naoto Kan kết hợp lại sẽ tiếp tục đe doạ làm sa lầy nỗ lực trên”. Thủ tướngNaotoKan đang bị giảm mất tín nhiệm trong thời gian qua. Cuộc khảo sát được thực hiện bởi báo Nikkie và TV Tokyo vào ngày 29.05.2011 cho thấy tỷ lệ ủng hộ ôngNaotoKan chỉ còn 28%.

Tín nhiệm tín dụng giảm, thất nghiệp tăng

Vì thế, dù thị trường chứng khoán Nhật đã tăng 2% sau những dự báo về việc tăng nhanh sản lượng sản xuất, nhưng những rủi ro có thể xảy đến cho nền kinh tế Nhật Bản đã làm cho tín hiệu lạc quan trên không đủ sức cứu vãn đánh giá về nền kinh tế Nhật Bản của các công ty xếp hạng tín dụng. Vào ngày thứ ba 31.05.2011, công ty xếp hạng tín dụng Moody’s đã cho biết sẽ đưa hạng tín nhiệm tín dụng Aa2  của Nhật Bản vào triển vọng tiêu cực, mức Aa2 là mức mà Moody’s đã xếp hạng đối với Nhật Bản vào tháng hai. Theo Wall Street Journal, cơ quan xếp hạng tín dụng này cho rằng việc đánh giá lại mức tín nhiệm tín dụng đối với Nhật Bản là vì: “quan ngại tăng cao về sự chùn bước của những kỳ vọng tăng trưởng kinh tế và sự phản ứng chính sách yếu ớt sẽ tạo ra nhiều thử thách hơn đối với chính phủ trong việc tạo thành và đạt được mục tiêu cắt giảm thâm hụt đáng tin cậy”.

Nợ công tương đương 200% GDP vốn dĩ đang là thử thách mà Nhật Bản chưa có biện pháp cải thiện khả thi trước cơn thiên tai, thì nay thử thách này lại càng lớn hơn vì Nhật Bản cần tăng cường chi tiêu để phục hồi nền kinh tế. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ước tính nợ công của Nhật Bản sẽ tương đương 219% GDP trong năm tới. Trong cuộc khảo sát của báo Nikkie và TV Tokyo, có đến 46% người được hỏi đã phản đối việc tăng thuế như một biện pháp để chi trả cho việc xây dựng sau động đất. Thủ tướngKantừng tuyên bố sẽ nâng 5% thuế tiêu dùng để cắt giảm nợ công.

Không riêng gì Moody’s, nhiều cơ quan xếp hạng tín dụng khác cũng đánh giá thấp kỳ vọng tín dụng đối với nợ công của Nhật Bản. Trước khi Moody’s hạ thấp mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản, Fitch cũng đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản xuống còn AA- vào thứ sáu tuần trước 27.05.2011. Trước đó nữa, Standar & Poor’s cũng đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản xuống còn AA- vào tháng tư. Trong thang đánh giá của Moody’s, mức xếp hạng Aa2 là mức cao thứ ba và cao hơn mức AA- của Fitch hay Standar & Poor’s. Xa hơn, Fitch còn cảnh báo một viễn cảnh tiêu cực đối với nền kinh tế Nhật Bản. Đó là cơn thiên tai đang thúc đẩy các nhà sản xuất di chuyển việc sản xuất ra nước ngoài, điều này sẽ làm cho mất đi vĩnh viễn một sản lượng đáng kể của nền sản xuất Nhật Bản.

Không chỉ đối mặt với nguy cơ nợ công cũng như sự chia rẻ của các chính trị gia, Nhật Bản đang phải chứng kiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ mức 4,6% trong tháng ba lên thành 4,7%. Tỷ lệ sẵn có của công việc cũng giảm từ mức 0,63 của tháng ba xuống còn 0,61, thấp hơn mức 0,62 mà các nhà kinh tế kỳ vọng. Tỷ lệ 0,61 sẵn có của công việc nghĩa là có 61 công việc cho mỗi 100 người tìm việc.

Ngô Minh Trí  – đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 02.06.2011