NHỮNG ĐỐI THỦ ĐÓN ĐẦU IPHONE 4

Liệu iPhone 4 có dễ “tự tung tự tác” khi bước chân ra thị trường. Nếu muốn thành công, iPhone 4 phải vượt qua được những thử thách mà các hãng khác đã đưa ra để “thách đấu” cùng iPhone 4. Sau đây là những đối thủ đầy mạnh mẽ mà iPhone 4 phải đối mặt, cả ba đối thủ này đều có màn hình cảm ứng đa điểm điện dung cực rộng, chụp hình độ phân giải cao, quay phim HD.

Nokia N8

Nokia N8

Dù có hãng này lớn mạnh và tạo ra những thành công ngoạn mục thì đến giờ Nokia vẫn đang chiếm ưu thế bằng thị phần lớn nhất trên thị trường smart phone. Đâu đó, Nokia vẫn luôn biết cho ra những sản phẩm hi-tech đúng thời điểm trước các đối thủ mạnh mẽ. Nokia N8 là câu trả lời cho điều đó.

Màn hình cảm ứng điện dung đa điểm rộng đến 3,5 inches và sử dụng công nghệ siêu sáng AMOLED. Nokia N8 trang bị camera 12Mpx ống kính Carl Zeiss, cho phép nhận diện khuôn mặt và nụ cười, hỗ trợ cả đèn flash dạng Xeon siêu sáng. Camera của Nokia N8 cho phép quay video chuẩn HD 720 pixels và đèn LED hỗ trợ cả quay phim vào ban đêm, kèm theo đó là khả năng nhận dạng khuôn mặt, nụ cười. Kèm theo đó là camera phụ dùng cho video call.

Tất nhiên, khả năng kết nối internet không dây Wifi, định vị toàn cầu GPS, bluetooth, xem phim HD, nghe nhạc… đều được Nokia tích hợp theo máy. Hấp dẫn hơn,  Nokia N8 trang bị cổng đa hợp HDMI để truyền hình ảnh và âm thanh HD để có thể thưởng thức trên các màn hình, dàn âm thanh lớn, đây là hỗ trợ rất hiếm trên các đối thủ khác, kể cả iPhone 4 cũng không có Nhờ đó, chiếc máy trở thành một nguồn phát HD thực thụ và càng thể hiện rõ đẳng cấp của một thiết bị giải trí xứng tầm. Bộ nhớ máy cũng lên đến 16GB và hỗ trợ thẻ 32GB.  Nokia N8 thực sự là một cổ máy giải trí thuộc hàng siêu phẩm.

Samsung  I9000 Galaxy S (phiên bản cho T-Mobile là Samsung T959 Galaxy S)

Samsung I9000 Galaxy S

Với quyết tâm dành “số má” trong làng smartphone thế giới, Samsung ngày càng nỗ lực để có những sản phẩm smart phone với những tính năng hàng “khủng”. Samsung I9000 Galaxy S chính là một trong số đó. Samsung I9000 Galaxy S trang bị màn hình cảm ứng đa điểm điện dung rộng đến 4.0 inches với độ phân giải 480 x 800 pixles. Chất lượng màn hình AMOLED của Samsung I9000 Galaxy S được một số tạp chí chuyên ngành trên thé giới đánh giá là là sáng hơn nhiều so với iPhone 4. Máy có thiết kể rất mỏng với bề dày chỉ 9,9 mm.

Máy có camera 5.0 Mpx cho phép nhận diện khuôn mặt, nụ cười, chọn điểm lấy nét bằng cách chạm trực tiếp lên màn hình và quay phim chuẩn HD 720 pixels. Tất cả các tính năng wifi, GPS cùng các ứng dụng mạng xã hội đều chạy khó mượt trên nền hệ điều hành Android. Điểm nổi bật không thể không kể đến của chiếc máy chính là trang bị chip xử lý ARM Cortex A8 tốc độ 1GHz. Samsung I9000 Galaxy S có hai phiên bản bộ nhớ trong 8GB và 16GB cùng khe cắm thẻ nhớ TF hỗ trợ thẻ có dung lượng đến 32GB. Có thể nói tâm điểm của chiếc máy chính là màn hình “khổng lồ” siêu sáng của nó.

Motorola Milestone XT720

Motorola Milestone XT720

Sau khi dành thành công lớn với Milestone và nhớ đó nâng được thị phần của mình trên dòng smartphone cao cấp, Motorola tiếp tục thừa thắng xông lênbằng model mới. Đó là Motorola Milestone XT720. Chiếc máy này có màn hình cảm ứng đa điểm điện dung rộng 3,7 inches có độ phân giải lên đến 480 x 854 pixels.

Motorola Milestone XT720 có camera độ phân giải 8.0 Mpx tự động nhận diện khuôn mặt, nụ cười và có cả đèn flash Xeon siêu sáng. Chiếc máy còn cho phép quay phim chuẩn HD 720 pixels. Vẫn như thế hệ trước, chip xử lý ARM Cortex A8 720 MHz trên  Motorola Milestone XT720 kết hợp cùng hệ điều hành Android cho phép máy có khả năng lượt web thông qua kết nối wifi với tốc độ cực nhanh. Bên cạnh đó, khả năng định vị toàn cầu GPS của Milestone XT720 có lẽ cũng không kém cạnh đời trước là bao. Milestone XT720 còn là thiết bị giải trí với jack cắm 3.5 mm để thưởng thức các bản nhạc bằng tai nghe chuyên dụng. Người sử dụng cũng còn có thể xem phim HD độ nét cao. Nhược điểm của chiếc máy chính là bộ nhớ trong chỉ 150MB, nhưng bù lại nó hỗ trợ thẻ nhớ microSD đến 32GB.

Bảng so sánh thông số kỹ thuật:

IPHONE 4 NOKIA N8
Kích thước/TL 115,2 x 58.6 x 9.3 mm/ 137 gam 113,5 x 59.1 x 12.9 mm/ 135 gam
Băng tần 2G: GSM 850/ 900/ 1800/ 1900 Mhz

3G: HSDPA 850/900/ 1900/ 2100 Mhz

2G: GSM 850/ 900/ 1800/ 1900 Mhz

3G: HSDPA 850/900/ 1700/ 1900/ 2100 Mhz

Màn hình TFT, 16 triệu màu; 3,5 inches,

960 x 640 pixles, cảm biến 3 chiều

Cảm ứng điện dung

AMOLED, 16 triệu màu; 3,5 inches,

360 x 640 pixles, cảm biến xoay

Cảm ứng điện dung

Kết nối GPRS, Wifi, Bluetooth, GPS, micro USB GPRS, Wifi, Bluetooth, GPS, micro USB
Hệ điều hành iPhone OS 4 Symbian ^3 OS
Bộ nhớ trong 16GB/32GB 16GB, 256 MB RAM, 512 MB ROM
Thẻ nhớ Không có microSD tối đa 32GB
Camera 5.0 Mpx, flash LED, quay phim 720pixels

Camera phụ (chỉ dùng cho kết nối wifi)

12.0 Mpx, ống kính Carl Zeiss, flash Xenon

Auto focus, nhận diện khuôn mặt, nụ cười.

Quay phim @720p, đèn quay phim buổi tối

Giải trí Radio, nghe nhạc, xem phim HD, cổng TV-out, jack cắm 3,5 mm Radio, nghe nhạc, xem phim HD, cổng TV-out đa hợp HDMI, jack cắm 3,5 mm
Khác Vỏ chống trầy, chống va đập, sử dụng micro-simcard

SAMSUNG I9000 GALAXY S MOTOROLA MILESTONE XT720
Kích thước/TL 122,4 x 54.2 x 9.9 mm/ 118 gam 116 x 60,9 x 10.9 mm/ 160 gam
Băng tần 2G: GSM 850/ 900/ 1800/ 1900 Mhz

3G: HSDPA 850/900/ 2100 Mhz

2G: GSM 850/ 900/ 1800/ 1900 Mhz

3G: HSDPA 1700/ 2100 Mhz

Màn hình AMOLED, 16 triệu màu; 4,0 inches,

480 x 800 pixles, cảm ứng điện dung

TFT, 16 triệu màu; 3,7 inches,

480 x 854 pixles, cảm ứng điện dung

Kết nối GPRS, Wifi, Bluetooth, GPS, micro USB GPRS, Wifi, Bluetooth, GPS, micro USB
Hệ điều hành Android OS v2.1 Android OS v2.1
Bộ nhớ trong 8/16GB 150MB, 512MB RAM, 512 MB ROM
Thẻ nhớ microSD tối đa 32GB microSD tối đa 32GB
Camera 5.0 Mpx, nhận diện khuôn mặt, nụ cười.

flash Xenon, Quay phim @720p

8.0 Mpx, nhận diện khuôn mặt, nụ cười.

Flash Xenon, quay phim @720p.

Giải trí Radio, nghe nhạc, jack cắm 3,5 mm Radio, nghe nhạc, xem phim HD, cổng TV-out đa hợp HDMI, jack cắm 3,5 mm

Ngô Minh Trí

Advertisements

IPHONE 4: SIÊU PHẨM MỚI CỦA APPLE

Lẽ ra, tôi không viết nhiều về điện thoại di động nữa dù đã làm ngành này nhiều năm. Nhưng thấy cái iPhone 4 rộn ràng quá, mà một số báo điện tử đưa tin rất nhanh nhưng lại chưa thể hiện được vài điểm “khác người” của chiếc máy nên mới nhiều chuyện viết một bài cho tạp chí Mobile và để cho bà con đọc chút cho vui về “siêu phẩm này”. Khoảng 10 ngày nữa tạp chí mới phát hành. Bài viết sử dụng thông tin từ thông cáo báo chí chính thức của Apple.

iPhone 4 được Apple chính thức loan báo vào ngày 07.06.2010 (ảnh: Engadget)

Ngày 07.06.2010, Apple chính thức giới thiệu iPhone 4 sau một loạt thông tin rò rỉ quanh sản phẩm đình đám này. Trong lễ giới thiệu chính thức này, tên gọi của iPhone 4 cũng đã trở thành tên gọi chính thống của sản phẩm mà trước đây người thì nói là iPhone 4G, người thì nói là iPhone HD.

Steven Job, CEO của Apple, đã tự tin gọi: “Iphone 4 là bước nhảy vọt lớn nhất kể từ iPhone bản gốc”. Có lẽ lời phát biểu trên ở một chừng mực nào đó là không hề quá đáng. Iphone 4 là một trong những chiếc smart phone mỏng nhất thế giới với bề dày chỉ 9,3mm. Một loạt những cải tiến quan trọng nhất được Apple đem đến với hi vọng mở ra một trang sử mới đầy phấn khích cho iPhone.

Cả mặt trước và sau của chiếc iPhone 4 đều được làm bằng thủy tin hỗn hợp nhôm với silicate. Nhờ đó, chiếc máy tăng khả năng chống trầy sướt và có độ bền cao, chịu được tác động va đập gấp 30 lần so với nhựa thông thường. Cùng với việc trang bị chíp xử lý A4 tốc độ 1GHz và nâng cấp lên hệ điều hành iPhone 4 giúp chiếc máy khai thác nhiều hơn những ứng dụng. Việc nâng cấp pin cũng cho phép chiếc máy có thời gian đàm thoại đến 7 giờ, có thể lượt web bằng wifi trong 10 giờ, giao tiếp 3G lên đến 6 giờ và có thể xem video trong 10 giờ, nghe nhạc trong 40 giờ.

Camera cũng được nâng cấp lên độ phân giải 5 Mpx và có đèn  flash LED cùng zoom kỹ thuật số 5X. máy ảnh số theo máy có thể chụp hình tốt và cho phép chọn điểm lấy ne 1t bằng cách chạm trực tiếp trên màn hình. Camera cho phép quay phim HD 720 pixels và có thể cài thêm ứng dụng để gia tăng hiệu ứng cho video clip. Chiếc máy còn có camera phụ phía trước để phục vụ video call và người dùng có thể nhanh chóng chuyển sang sử dụng camera sau cho video call để có thể đưa hình ảnh của những người khác vào cuộc gọi. Đây là điểm đặc biệt của chiếc máy nhưng tiếc là camera phụ chỉ dùng trong kết nối wifi.

Tất nhiên, chiếc máy hội tụ cả kết nối wifi, định vị toàn cầu GPS, bluetooth, cổng TV-out và jack cắm tai nghe 3,5 mm. Máy có hai phiên bản 16GB và 32GB, chứ không có phiên bản 8GB như các đời trước. Nhưng hiện máy chỉ cho phép gắn sim loại Micro-sim, điều này sẽ gây khó khăn với khách hàng ở nhiều nước.

Điểm nổi bật nhất chính là màn hình rộng 3,5 inches cho phép trình diễn phim HD với độ phân giải của mình hình lên đến 960 x 640 pixels và độ nét của hình ảnh ngang bằng với võng mạc người. Độ phân giải trên đạt đến mức gấp 4 lần so với iPhone 3GS và bằng 78% của iPad. Với độ phân giải như thế thì sự mượt mà của màn hình iPhone 4 có thể nói là khó hình dung nỗi. Hấp dẫn hơn, màn hình cảm biến theo trục quay ba chiều khiến hình độc đáo hơn.

Iphone 4 sẽ chính thức bán tại Hoa Kỳ trong ngày 24.06 tới với giá khởi điểm là 199USD cho hợp đồng 2 năm sử dụng. Cùng lúc đó nó cũng sẽ có mặt tại Pháp, Đức, Anh và Nhật bản.

Tóm tắt thông số kỹ thuật:

Kích thước/TL 115,2 x 58.6 x 9.3 mm/ 137 gam
Băng Tần 2G: GSM 850/ 900/ 1800/ 1900 Mhz

3G: HSDPA 850/900/ 1900/ 2100 Mhz

Màn hình TFT, 16 triệu màu; 3,5 inches,

960 x 640 pixles, cảm biến xoay 3 chiều

Kết nối GPRS, Wifi, Bluetooth, GPS, micro USB
Hệ điều hành iPhone OS 4
Bộ nhớ 16GB/32GB
Camera 5.0 Mpx, flash LED, quay phim 720pixels

Camera phụ (chỉ dùng cho kết nối wifi)

Giải trí Radio, nghe nhạc, xem phim HD, cổng TV-out, jack cắm 3,5 mm
Khác Vỏ chống trầy, chống va đập, sử dụng micro-simcard

Ngô Minh Tríviết cho tạp chí Mobile

PHÂN BIỆT CÁC LOẠI XE MÁY

Thực sự, cách phân biệt các dòng xe mà bài viết đề cập không phải là tuyệt đối chính xác, vì các hãng xe giờ thường pha trộn thiết kế. Cũng như đối với ô tô, các hãng liên tục đưa ra các concept mới nên cũng rất khó phân biệt những dạng kiểu như SAV với crossover, hay wagon với crosstour.

Sau đây là một số thông tin về các loại xe.

Dòng Cruiser

cruiser

Đây là loại xe mô tô phân khối lớn gầm và yên xe khá thấp. Dáng người ngồi điều khiển thường thẳng lưng và hơi ngã  người về sau. Nhưng chân có xu hướng gác về phía trước, vị trí lái hướng bàn chân lên phía trước, khoảng cách giữa vị trí ngồi và điểm đặt bàn chân xa tính theo tiết diện ngang. Thiết kế dòng xe này rất hay sử dụng những chi tiết kim loại sáng bóng, bề ngang thân xe to và tiết diện ngang của bánh xe cũng khá lớn. Nhờ tư thế ngồi như vậy, xe cruiser tạo cảm giác thoải mái khi sử dụng trên đường trường. Tuy vậy, vì gầm xe quá thấp nên người lái cần cẩn thận khi ôm cua tốc độ cao. Những model thuộc dòng cruiser vốn được người Việt Nam ưa chuộng và có động cơ vừa phải là: Honda Rebel, Yamaha Virago. Cao cấp hơn thì có Honda Shadow, Honda Steed hay các model của Harley Davidson.

Dòng Chopper

xe chopper

Nhìn chung, dòng xe chopper khá giống với dòng xe cruiser. Điểm khác biệt lớn nhất giữa chopper với cruiser chính là phần đầu xe và bánh trước. So với yên xe, đầu xe cao hơn rất nhiều. Tiếp theo chính là bánh xe trước được thiết kế vươn dài khá xa về phía trước, cho nên hệ thống giảm sốc trước cũng vươn dài theo. Bên cạnh đó, yên xe người lái cũng hỏm xuống khá sâu so với bánh sau, nhiều model xe này chỉ thiết kế chổ ngồi cho một người. Người điều khiển gần như phải duỗi hết cánh tay khi điều khiển. Một điểm khác để nhận diện dòng xe này chính là tiết diện bánh xe khá nhỏ.

Dòng xe này có phong cách cổ điển và thường chủ nhân xe hay có xu hướng độ lại thật trau chuốt những chi tiết kim loại để tăng vẻ hấp dẫn. Dòng xe này nhìn chung chưa phổ biến tại Việt Nam

Dòng Sportbike

sport bike

Đây là loại xe thể thao sở hữu khối động cơ công suất lớn trong khi bộ khung trọng lượng nhẹ. Xe thường có cấu trúc bộ khung gầm rắn chắc. Yên xe cao và gần như không thấp hơn đầu xe là bao. Người lái có xu hướng hơi xấp người về phía trước nhằm góp phần tăng độ khí động học cho xe. Chân người lái cũng có xu hướng dang về sau  và vị trí đặt bàn chân thường ngang với hông người lái tính theo chiều thẳng đứng. dòng xe này có thể cho phép vào cua tốc độ cao.

Ống bô xe cũng thường được thiết kế chếch lên và hệ thống giảm sốc sau thường là giảm sốc đơn. Xe có bánh lớn và tiết diện ngang của bánh cũng khá to. Là dòng xe tập trung cho tính năng thể thao nên xe không trang bị nhiều tiện nghi. Điểm nổi bật của xe chính là khả năng tăng tốc nhanh cùng với hệ thống phanh nhạy. GrandPrix là giải đua nổi tiếng của dòng xe này.

Dòng Naked-bike

Naked bike

Về tổng thể kiểu dáng, dòng xe Naked-bike không khác nhiều so với sportbike. Nhưng nếu Sportbike thường có bộ vỏ khá bóng bẩy che phủ gần như toàn bộ chiếc xe. Thì dòng nakedbike gần như trần trụi hoàn toàn. Các bộ phận máy, khung gầm, đầu xe và cả dàn đèn đều “lộ” rõ ra ngoài mà không có gì bao phủ. Theo đó, dòng xe này hoàn toàn không có những tấm ốp thân nhằm tăng độ khí động học của xe.

Các phần còn lại về động cơ, tư thế lái, ưu điểm tăng tốc của dòng xe này gần như trùng khớp với Sport-bike. Tại Việt Nam, dòng xe này có model Honda CB được rất nhiều người ưa chuộng và tại nhiều nơi có hẳn một câu lạc bộ của những người yêu xe Honda CB.

Dòng Touring

Touring

Đây là dòng xe được thiết kế cho những chuyến đi xa với nhiều tiện nghi hỗ trợ kèm theo, phù hợp với những chuyến hành trình dài. Động cơ trang bị cho dòng xe này có công suất khá lớn, nhiều model của dòng touring có động cơ ngang ngữa với các model xe hơn cỡ nhỏ. Dòng xe này sử dụng động cơ dung tích lớn, kích thước xe lớn, nặng, chạy rất đằm trên đường trường. Hệ thống giảm sốc êm và tư thế ngồi lái tiện dụng. Yên xe có bề ngang khá rộng và đa phần trang bị hệ thống dựa lưng cho cả ghế trước và sau, tấm ốp chắn gió.

Xe touring thường được trang bị sẵn các thùng chứa đồ và nhiều tiện nghi hiện đại. Các mẫu xe mới nhất có cả hệ thống giải trí như radio hay hệ thống chơi nhạc, thiết bị định vị toàn cầu và thiết bị liên lạc giữa hai người ngồi để có thể nói chuyện dễ dàng hơn. Model Honda Goldwing 2010 còn có hệ thống sưởi ấm, túi khí cùng công nghệ chống bó phanh ABS. Với những trang bị như thế, mức giá tiêu chuẩn của dòng xe touring rất cao so với các loại xe khác.

Scooter

scooter (xe tay ga)

Đây là loại xe vốn đã quá quen thuộc với người Việt Nam qua hàng loạt model đang bán rất chạy như: Honda Airblade, Honda SCR, SYM Attila, Yamaha Nouvo… Loại xe này sử dụng hộp số chuyển động vô cấp và thường trang bị bánh nhỏ, thiết kế thời trang.

Loại xe này thường được thiết kế để người lái có tư thế ngồi ngang và phù hợp di chuyển trên đường phố trong các đô thị nhỏ. Động cơ xe đóng vai trò như một phần của tay đòn nên thường chuyển động cùng hệ thống giảm xóc. Vốn dĩ, xe scooter rất được ưa chuộng ở châu Âu, đặc biệt là khu vực Địa Trung Hải. Xe scooter rất phổ biến tại Ý và hãng Piaggio của nước này cũng đình đám với rất nhiều model xe tay ga.

Môtô off-road

offroad (tức chạy ở nơi "không có đường")

Đây là loại xe địa hình có trọng lượng nhẹ, hệ thống giảm sóc dài cùng yên xe cao, khoảng sáng gầm xe lớn. Loại xe này khá giống với dòng naked-bike ở chổ nó sử dụng rất ít các tấm ốp thân xe. Xe có thể chạy phù hợp trên những địa hình phức tạp, gập ghềnh nhờ vào hệ thống giảm sốc. Theo đó, dòng xe này cũng được thiết kế ống bô cao để di chuyển được cả các khu vực ngập nước. Nhiều model của dòng off-road có bánh xe nhiều gai để di chuyển trên những đoạn đường hẹp, tránh bị lệch bánh xe. Dòng xe này hay xuất hiện trong những cảnh quay hành động đòi hỏi người lái phải “bay nhảy” qua các chướng ngại vật.

Các dòng “xe lai”

Sport touring

1. Sport Touring là loại kết hợp giữa dòng touring và dòng thể thao sportbike. Dòng xe này có thiết kế hơi giống với sportbike nhưng trang bị các tiện nghi phù hợp với việc đi xa. Xe có khả năng tăng tốc nhanh, mạnh.

Super motor

2. Super Moto là loại xe lai giữa dòng xe sportbike  và off-road. Nhờ đó nó có khả năng tăng tốc nhanh và có thể di chuyển ở địa hình phức tạp. Nhưng tất nhiên nó được thiết kế nhiều tấm ốp nhằm tăng tính thẩm mĩ khi di chuyển trên đường phố.

sider car

3. Sidecar (Xít-đờ-ca) là loại xe máy gắn thêm thùng xe một bên nên có ba bánh và xem như chở được ba người. Nhờ có thùng xe và một bánh gắn thêm nên xe có độ cân bằng cao hơn và ít bị trơn trợt hơn. Tuy vậy, điều khiển xe này khi vào cua khá khó khăn.

Minh Khuyết Hồng –

“NỖI NIỀM” TRƯƠNG THÁI DU

nguồn Internet

Mươi ngày trước, tôi vô tình đọc được một bình luận về bài Bức tường Berlin trên blog QUECHOA. Tác giả của bài bình luận này là Trương Thái Du. Điều khiến tôi bỏ chút thời gian đọc thêm các bài viết của Du là khả năng viết lách và tư tưởng của ông này..

Tôi viết không vì bênh vực Huy Đức, đơn giản chỉ là nhận xét. Bởi với tôi, Huy Đức chứa nhiều dấu hỏi. Tôi chỉ quan tâm các bài viết của Huy Đức, và rõ ràng, trong nhận xét của tôi thì bài viết của Huy Đức cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực hơn là tiêu cực.

Trương Thái Du cũng thế, tôi chỉ quan tâm các bài viết để thấy“nỗi niềm” của ông này. Tôi không hề có ý dính dáng vào trận “bút chiến” nào, cũng không muốn dính đến khuynh hướng chính trị của các vị ấy.  

Từ khoa chiêu

Ở Huy Đức, khi viết, thường dùng phép quy nạp bằng cách trích dẫn một loạt các sự kiện, số liệu, dẫn chứng… và được tổ chức có hệ thống để đi đến kết luận của mình. Huy Đức tổ chức các dẫn chứng rất bài bản, thông qua đó định hướng suy nghĩ cho người đọc và dần dần truyền tải thông điệp của mình muốn nói. Nhờ đó, tính thuyết phục khá cao, nhiều người tâm đắc.  Nhưng tất nhiên, người đọc vẫn cần có sự tỉnh táo, để đánh giá việc định hướng kia, thì mới có được một nhận thức sáng suốt.

Công thức viết tưởng chừng đơn giản ấy nhưng không phải ai cũng làm được, bằng chứng là không có nhiều cây bút như Huy Đức. Tất nhiên, thành công trong viết lách của Huy Đức còn phải kể đến những yếu tố ngoài lề mang tính cá nhân khác, nhưng dẫu sao làm được như thế cũng là hiếm. Nên hãy quên đi những yếu tố cá nhân ấy.

Còn với Trương Thái Du lại khác, ông Du thường có cách thể hiện ngay thông điệp và sau đó hùng biện bằng một vài dẫn chứng tỏ ra khá hùng hồn .

Trong bài Đọc “Bức Tường Berlin” của Huy Đức (*), ông Du nhanh chóng đi vào ngay thông điệp chính: “nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhảy múa trên những sử liệu một chiều” và “Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây”.

Tiếp sau là một bài hùng biện hùng hồn với bút lực, ngôn từ rất mạnh mẽ. Phải công nhận rằng lối viết của Du khá sắc bén, ngôn từ có tính tác động cao. Từ đó, tác giả bắt đầu dùng ngòi bút khoáy đảo, dẫn dắt người đọc vào một mê hồn trận lý luận để rồi kết thúc bằng một thông điệp đậm tính triết lý: “Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa”.

Kết luận thế, sẽ khiến một số người đọc đặt dấu hỏi về bài viết của Huy Đức. Nhờ đó, bài viết của Trương Thái Du có lẽ có hiệu quả không hề nhỏ. Một số người sau khi tâm đắc với bài Bức tường Berlin của Huy Đức có thể đã phải lung lay trước bài đánh giá của Trương Thái Du.

Đó là điểm mạnh, nhưng để tạo ra được hiệu ứng ấy thì ông Du dùng quá nhiều khoa chiêu trong viết lách. Chính nhờ những khoa chiêu, ông đã “thôi miên” được một số độc giả. Nhưng thôi miên khác với nhận thức lý trí, nó không thể ăn sâu vào tâm trí người khác, nó chỉ là nhất thời.

Tác giả Trương đã nâng quan điểm bằng việc chỉ trách mạnh mẽ “nhãn quan phương Tây”. Ông Du cũng dẫn chứng hẳn hoi để chứng minh quan điểm ấy và mặt xấu của phương Tây là đô hộ, là ách thống trị trung cổ man rợ, là toan tính… Nhưng xoay quanh những điều gọi là chứng minh chỉ là việc áp đặt thiên kiến.

Việc đô hộ về bản chất chỉ là hình thức của việc thiết lập ảnh hưởng của các cường quốc. Tùy vào từng thời điểm lịch sử mà hình thức ảnh hưởng có những mức độ khác nhau, và thế giới càng phát triển, càng tiến bộ, thì tất nhiên những trò áp đặt mang rợ chắc chắn phải giảm dần. Đó là quy tắc bao đời của thế giới, dù tôi hay các bạn không muốn thì vẫn phải thừa nhận nó đang tồn tại, để dẹp bỏ hoàn toàn thì có lẽ còn xa. Và ai cũng hiểu hành xử của bất cứ quốc gia nào đều luôn dựa trên mục đích chính trị của quốc gia đó.

Nếu nhìn vào dẫn chứng của ông Du, so sánh ngược lại, người ta cũng có quyền nhìn nhận việc hiện diện quân sự của Liên Xô lúc bấy giờ trên đất Đông Âu là tương tự với hai chữ “đô hộ”.

Ngay đến cách ông Du đánh giá nghị quyết 1481 của châu Âu, việc đổ quân lên Berlin trong quá khứ, việc “xét lại” lịch sử cũng chủ yếu là nhận định cá nhân mà không kèm theo được dẫn chứng khách quan nào. Nên sẽ là sai nếu xem đó là dẫn chứng khách quan.

Rồi khái niệm “ý chí thống nhất của dân tộc” được Trương Thái Du dùng để giải thích cho việc hòa hợp nước Đức cũng hết sức chung chung. Khi đó chỉ là cảm nhận, không có một viện dẫn nào ngoài phát biểu mang tính cá nhân của tác giả. Thứ duy nhất có thể xem là dẫn chứng cho quan điểm này là người dân hai miền Triều Tiên vẫn nỗ lực hòa hợp. Nhưng, câu hỏi đặt ra là đã hòa hợp được chưa? Và nếu chưa hòa hợp được thì người dân khi được chọn sẽ chọn Nam hay Bắc Triều? Và điều gì cản trở hòa hợp?

Sau hết, một kết luận tổng thể mà tác giả muốn gởi gắm sau một hồi khoáy đảo về “nhãn quan phương tây”, “ý chí thống nhất” là việc dùng chuyện Iraq để một lần nữa phủ định thông điệp về tự do, dân chủ của Huy Đức.

Ai cũng hiểu ý định của Hoa Kỳ tại Iraq là gì, giải phóng dân Iraq khỏi Sadam Hussein chỉ là cái cớ để phục vụ cho mục tiêu chính trị. Nên lẽ ra, ông Du nên dùng dẫn chứng này vào việc lên án tính thực dụng, “con buôn” của chủ nghĩa tư bản thì chính xác hơn. Mà thực ra, chuyện Iraq cũng được Huy Đức nói đến trong bài viết, có kèm theo cả nhận xét cuộc chiến này:  “Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy”.

Qua những phân tích trên, ta thấy ông Du đã tạo ra một trận đồ hỗn loạn giữa cái gọi là dẫn chứng với quan điểm cá nhân phiến diện nhằm thôi miên người đọc. Nếu đánh giá chính xác, bài viết của ông Du không hề có lấy một dẫn chứng khách quan có giá trị nào cả, chưa kể cả việc đặt sai dẫn chứng. Bằng cách áp đặt quan điểm một cách khiên cưỡng, Trương Thái Du, ngược lại, đã rơi vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu.

Đến đau đáu “nỗi niềm”

Kế sau bài Đọc “Bức Tường Berlin” của Huy Đức, tôi đọc tiếp bốn bài viết của ông Du trên BBC: một bài khảo cứu về nguồn gốc người Việt cổ và nói về bà Trưng – Tiếng trống đồng Mê Linh (2005)(1)Việt Nam và thế giới Trung Hoa (2008)(2), Tên gọi cuộc chiến Việt – Trung 1979 (2009)(3), Thời đại không anh hùng (2009)(4). Tuy chưa có bài nào ông Du dám mạnh miệng chối bỏ về đất nước và con người Việt Nam, nhưng kết nối lại thì tạo ra một chuỗi đáng suy nghĩ. Qua bốn bài ấy, tôi phần nào thấy được thông điệp cốt lõi mà tác giả này đang cố rao giảng.

Trong bài Tiếng trống Mê Linh, ông Du vẫn ca ngợi công trạng của hai bà Trưng. Thế nhưng, trong phần đầu dẫn dắt thì ông này rất nhấn mạnh đến cái gọi là khởi thủy của Việt Nam vẫn chỉ bắt nguồn tại Trung Quốc và là một bộ tộc mà thôi. Ông nhận xét rằng: “Vua Hùng của họ chỉ còn là thủ lãnh tự trị từng khu vực nhỏ, tức là như tù trưởng, tộc trưởng mà thôi”. Dường như cả bài viết là lời biện giải về nguồn cội “đại Hoa” của Việt Nam trong mắt ông Du dù cũng có những đánh giá lịch sử đáng suy nghĩ.

Tiếp theo, bài Việt Nam và thế giới Trung Hoa, ông Du đề cao cái gọi là “thế giới Trung Hoa”, xem nó luôn là một thế lực bao đời trên thế giới. Nếu ai tinh ý, người đó sẽ thấy ngay khái niệm “thế giới Trung Hoa” của ông Du có phần vay mượn từ học thuyết về Sự va chạm giữa các nền văn minh của học giả Mỹ Samuel Huntington. Nhưng điểm khác biệt là ông Du sử dụng “nửa nạt nửa mở”.  Bởi Huntington dùng khái niệm ‘nền văn minh” để giải thích các va chạm hiện tại. Còn tại thời điểm kết thúc đệ nhị thế chiến thì Huntington vẫn xem việc phân chia là theo ý thức hệ. Tất nhiên, không ai có thể phủ nhận Trung Quốc vẫn là một cường quốc, tối thiểu là trong khu vực, ở nhiều thời kỳ. Nhưng việc “nâng tầm” như ông Du thì có lẽ hơi vỹ cuồng.

Bài viết ấy, bên cạnh việc ca tụng thế giới Trung Hoa, ông Du còn cố nhấn mạnh Việt Nam bao lâu nay vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cái thế giới ấy, và có phần phụ thuộc rất lớn. Từ đó, ông này đưa ra đề xuất rằng Việt Nam muốn đảm bảo chủ quyền, muốn ngẩng đầu thì cần phải  thoát khỏi thế giới Trung Hoa. Nghe có vẻ rất là chân tình và đóng góp ý kiến. Thế nhưng, nếu suy nghĩ sâu hơn thì lối ẩn dụ của bài viết là những truyền bá rất nguy hiểm cho người Việt. Lối ẩn dụ đó chính là xóa sạch mấy nghìn năm của người Việt.

Một mặt đề xuất, một mặt ông Du “dập tắt hi vọng” của chính đề xuất bằng bài Thời đại không anh hùng, để nói Việt Nam hiện nay không có được một nhân vật đủ tạo ra một bước ngoặc thực sự cho dân tộc. Nối kết hai bài, ông Du như muốn nói rằng Việt Nam hãy an phận thuộc “Thế giới Trung Hoa” vì chẳng ai xoay chuyển nổi.

Đó là chưa kể, ông Du nói về việc xem lại tên gọi cuộc chiến Việt  Trung 1979. Một ý niệm tiếp theo, ông này gởi gắm, về cuộc chiến đó chỉ là “anh em một nhà đóng cửa dạy nhau”, bác bỏ khái niệm “chống bành trướng Bắc Kinh”.

Bằng tất cả những gì Trương Thái Du thể hiện, tôi chỉ thấy một nỗi niềm đau đáu về cái thế giới Trung Hoa vĩ đại của ông. Với người mang một nỗi niềm như thế, lại nhìn mọi thứ hết sức phiến diện thì thật là nguy hiểm khi nhiều người bị ngòi bút của ông lay động.

 Ngô Minh Trí

Các tham khảo:

Bức tường Berlin

Bút chiến quanh bài Bức Tường Berlin

Tiếng trống đồng Mê Linh

Việt Nam và thế giới Trung Hoa

Về tên gọi cuộc chiến Việt – Trung 1979

Thời đại không anh hùng

McNAMARA, SỰ NGHIỆP VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Robert Mc Namara ngày ấy (nguồn: Internet)

Là một người có được nhiều thành công trong các vị trí công việc khác nhau, cũng là người có thời gian đảm nhiệm lâu nhất vị trí bộ trưởng Bộ quốc phòng Hoa Kỳ từ trước đến nay. Nếu không có những sai lầm trong chiến tranh Việt Nam khiến cho uy tín bị giảm sút, có lẽ Robert McNamara đã có một sự nghiệp hoàn hảo hơn.

Sự nghiệp lẫy lừng

Những gì Robert McNamara đạt được trong sự nghiệp của mình trước khi chính thức trở thành bộ trưởng bộ quốc phòng Hoa Kỳ là một thành tích mà không được mấy người có thể có được.

Năm 1939, khi chỉ 23 tuổi, McNamara đã có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh của Đại học Harvard danh tiếng. Sau đó một năm, McNamara chính thức giảng dạy tại đại học Harvard cho đến khi nhập ngũ vào năm 1943. Đến năm 1946, McNamara xuất ngũ và làm việc tại tập đoàn xe hơi Ford.

Chỉ 14 năm sau đó, McNamara được Henry Ford đệ nhị nhường ghế chủ tịch tập đoàn và trở thành người đầu tiên không thuộc dòng họ Ford lãnh đạo tập đoàn này. Nhưng McNamara chỉ đảm nhiệm công việc này trong khoảng  năm tuần thì trở thành người lãnh đạo của Lầu Năm Góc trong chính phủ của Tổng thống tân nhiệm lúc bấy giờ là Kennedy.

Thực ra, khi đắc cử Tổng thống, John F. Kennedy đã mời bộ trưởng tiền nhiệm Robert A Lovett, bộ trưởng bộ quốc phòng thời tổng thống Eisenhower, tiếp tục đảm nhiệm vị trí này. Thế nhưng, Robert A Lovett từ chối và đề cử McNamara thay mình. Trước bản thành tích ấn tượng của Robert McNamara, Tổng thống Kennedy đã cho ông đến hai lựa chọn trong chính phủ của mình bằng việc chọn lựa vị trí bộ trưởng Bộ Ngân Khố hoặc Bộ Quốc Phòng. Lẽ ra, Robert McNamara chọn làm Bộ trưởng Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ thì phù hợp với những gì ông từng đạt được trước đó hơn là thử thách mình ở lĩnh vực quân sự.

Không có nhiều kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực quốc phòng, nhưng McNamara bằng khả năng nhạy bén của mình đã tỏ ra “học việc” khá nhanh và nhanh chóng có những kế hoạch cải tổ cổ máy quân sự lớn nhất thế giới này. Bằng tất cả những kỹ năng quản lý có được, Robert McNamara đã kiến tạo nên một hệ thống quản lý bài bản trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và cũng là người thực hiện nên chiến lược quốc phòng mới cho Hoa Kỳ. Trong đó, việc áp dụng các khả năng của máy tính điện tử vào công việc quản lý Bộ Quốc Phòng đã làm nên những bước tiến đáng kể.

Không chỉ thế, McNamara còn được xem là người đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết khủng hoảng tên lửa Cuba vào năm 1962. Dường như quan điểm của McNamara trong cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô lúc bấy giờ khá ôn hòa. McNamara luôn cho rằng Hoa Kỳ và Liên Xô nên đạt được sự đồng thuận hơn là đối đầu căng thẳng. Cũng từ lý do đó, McNamara đã cực lực chống đối kế hoạch thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa trên lãnh thổ Mỹ lúc bấy giờ. Ông cho rằng có hai lý do để không nên thực hiện kế hoạch trên. Thứ nhất, kế hoạch trên tiêu tốn quá nhiều tiền. Thứ hai, ông cho rằng kế hoạch trên chỉ phản tác dụng nhiều hơn. Bởi khi Hoa Kỳ thiết lập hệ thống này thì chắc chắn vì lý do chạy đua vũ trang, Liên Xô cũng xây dựng một hệ thống tương tự. Khi đó, về bản chất thì đây chỉ là một cuộc tăng cường vũ khí hạt nhân.

Bằng tất cả những gì mình làm được, McNamara trở thành người lãnh đạo lâu nhất trong lịch sử Bộ Quốc Phòng Mỹ khi đảm nhiệm chức vụ này gần tám năm qua hai đời Tổng thống John F.Kennedy và Lyndon B. Johnson. Thế nhưng, lẽ ra McNamara còn đảm nhiệm vị trí bộ trưởng này lâu hơn nữa nếu không có những áp lực chính trị do những hệ quả của chiến tranh Việt Nam tạo ra. Khi ông được xem là kiến trúc sư trưởng cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Trong vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, McNamara đã tỏ ra rất tích cực thúc đẩy sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Số lượng cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã tăng lên đáng kể khi từ con số vài trăm đã nhanh chóng nhảy lên 17.000 vào năm 1964.

Tháng 8 năm 1964, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, McNamara đã phát động những hành động can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ vào Việt Nam bằng các đợt không kích của không quân. Hai chiến dịch không kích là Mũi Tên Xuyên (tháng tám 1964) và Sấm Rền (đầu năm 1965). Tiếp theo đó, McNamara tiến hành cuộc can thiệp quân sự sâu rộng vào Việt Nam bằng những chiến dịch quân sự quy mô tăng nhanh cùng số lượng lính Mỹ tại Việt Nam.

Số lính Mỹ đã tăng nhanh đột biến khi đó với con số lên đến 485.000 quân vào năm 1967. Không chỉ thế, McNamara còn sử dụng những kỹ thuật công nghệ tân tiến để thiết lập hàng rào điện tử McNamara nhằm ngăn cản bước tiến của bộ đội miền Bắc. Song hành theo đó chính là những chiến dịch đánh phá quyết liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, đến những ngày cuối cùng của mình trên cương vị người đứng đầu Lầu Năm Góc, McNamara đã nhận ra chiến lược tại Việt Nam của ông ẩn chứa quá nhiều bất ổn. Cũng lúc đó, chiến dịch Tổng tiến công của bộ đội Bắc Việt Nam vào Tết Mậu Thân 1968 giáng một đòn nặng nề vào quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. Từ đó, những chia rẽ trong lòng nước Mỹ về cuộc chiến Việt Nam càng thêm sâu sắc. Đó là một áp lực lớn khiến cho McNamara phải từ chức.

Năm 1968, sau khi từ nhiệm Bộ Quốc Phòng, Robert McNamara tiếp nhận chức chủ tịch Ngân hàng Thế Giới đến năm 1981. Sau đó, ông làm việc và cố vấn cho các tập đoàn, quỹ từ thiện, trường đại học…

Người làm nước Mỹ sa lầy

Bằng những kỹ năng quản lý cùng mớ kiến thức đồ xộ về thống kê trong kinh doanh cũng như những am hiểu về khoa học kỹ thuật. McNamara đã tiếp cận cuộc chiến Việt Nam theo cách quen thuộc mà ông từng làm khi tái cấu trúc bộ máy quốc phòng Mỹ hay các công việc quản lý, điều hành trước đó tại tập đoàn Ford.

Phân tích những chiến lược chính của McNamara chúng ta có thể thấy đã tiềm ẩn những thất bại ngay từ ban đầu.

McNamara dùng các công cụ về thống kê để đánh giá tình hình chiến trường, đó là việc thống kê số lính chết trận, vũ khí thu được và tỷ lệ các khu vực đang chiếm đóng. Đó là một sai lầm trầm trọng vì sự ủng hộ khá lớn từ phía dân chúng đã tạo nên một cuộc chiến tranh du kích ngay chính trong lòng miền Nam chứ không phải một chiến tuyến rạch ròi của vĩ tuyến 17. Chính vì thế, có rất nhiều khu vực tuy Mỹ và miền Nam Việt Nam đang chiếm đóng nhưng chúng không hoàn toàn được quản lý bởi lực lượng này. Khi đó, thống kê những khu vực như thế không có ý nghĩa để phản ánh tình hình chiến sự. Thêm vào đó, sự gia tăng số lượng và vũ khí của bộ đội Bắc Việt Nam cũng là một yếu tố mà miền Nam Việt Nam và Mỹ chưa giải mã chính xác nên xem như việc lấy mẫu của thống kê đã thất bại. Như thế mới thấy, cách đánh giá tình hình cuộc chiến qua những biểu đồ thống kê là vô nghĩa.

McNamar lại lún vào một sai lầm khác khi sử dụng không quân để đánh bom miền Bắc và đường mòn Hồ Chí Minh như một phương án phá vỡ hậu phương. Đó là sai lầm thứ hai. Bởi nền kinh tế miền Bắc lúc bấy giờ chỉ là nông nghiệp chứ không phải nền kinh tế công nghiệp. Miền Bắc Việt Nam lúc đó chưa phải là nước Đức hay các nước đồng minh tại châu Âu trong Thế Chiến Thứ Hai để mà đánh phá cơ sở công nghiệp. Đó là chưa kể, nguồn lực chủ yếu của miền Bắc là dựa vào viện trợ của các đồng minh trong khối XHCN. Ngoài ra, việc ném bom một khu vực như đường Trường Sơn hay dựng nên hàng rào điện tử cũng khó có thể cản bước tiến của bộ đội Bắc Việt Nam. Đó là một cuộc chiến tranh du kích.

Hai sai lầm trên khiến cho người Mỹ khó có được những ưu thế trên chiến trường. Trong khi đó, về mặt chính trị thì cuộc chiến đã dần gây chia rẽ ngay trong lòng nước Mỹ. Ngay cả trong lòng xã hội Mỹ, McNamara cũng đã không lường hết những phản ứng về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Chiến lược chính của McNamara là đẩy mạnh sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam mà bỏ qua vai trò của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ. Vô hình chung, điều đó khiến cho cuộc chiến Việt Nam trở thành một cuộc chiến của Hoa Kỳ nhiều hơn là cuộc chiến giữa hai miền Việt Nam. Điều đó sẽ có hại nhiều hơn lợi đối với Mỹ về mặt chính trị của cuộc chiến. Vì lẽ đó, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày càng tỏ ra yếu ớt  và đó cũng là căn nguyên dẫn đến sự suy thoái ngày càng nghiêm trọng của chính phủ này. Cho nên, khi Hoa Kỳ chuyển qua sách lược Việt Nam hóa chiến tranh thì việc thất bại là điều tất yếu. vào năm 1973, khi Mỹ gần như rút toàn bộ lực lượng tại Việt Nam sau hiệp định Paris thì gần như lực lượng miền Nam Việt Nam không đủ sức tổ chức một cuộc hành quân quy mô lớn nào và chỉ đếm đến ngày 30 – 04 – 1975 để kết thúc cuộc chiến.

McNamara đã tính toán rất tốt những yếu tố hữu hình nhưng những nhân tố vô hình thì không. Công trình chiến tranh Việt Nam  do McNamara dựng nên về bản chất đã bị thất bại từ năm 1968 vì khiến người Mỹ sa lầy vào cuộc chiến nên ngay nội bộ nước Mỹ đã không còn đồng tình với cuộc chiến. Chính vì thế, bước ngoặc 1968 đã báo hiệu cho việc rút quân của Hoa Kỳ tại Việt Nam là tất yếu, đó cũng là chủ đề để Nixson tranh cử tổng thống năm đó. Và cuộc chiến Việt Nam đã trở thành lời cảnh báo cho tất cả các đời tổng thống Hoa Kỳ sau đó khi có những hành động can thiệp quân sự.

Ngô Minh Tríđăng trên Tuanvietnam.net

MỘT NĂM ẢM ĐẠM

Chi nhánh Viễn Thông A tại Hà Nội (nguồn: Sohoa.net)So với các năm trước, thị trường điện thoại di động năm qua trải qua một năm khá ảm đạm về mặt doanh số. Các hãng điện thoại di động cũng chưa thể hiện được dấu ấn lớn đáng kể nào. Các hệ thống bán lẻ thì có phần sôi động hơn nhờ việc các ông lớn “bành trướng” một cách rầm rộ.

Thứ bậc không đổi

Thất vọng lớn nhất trong năm qua có thể dành cho Nokia vì họ không đạt được một sản phẩm nào có dấu ấn lớn. Thành công của Nokia 1200 chỉ nhờ vào sự kế thừa của dòng máy cấp thấp trước đó là 1110, 1110i. trong năm qua, người ta không thấy được một sản phẩm nào “hot” như 5200, 5300 của năm 2006 hay 6300 của năm 2007. Ngay cả với dòng N-Series danh tiếng thì dấu ấn như N95 từng có cũng hoàn toàn không thấy, N96 được đánh giá là mờ nhạt so với những gì người ta kì vọng. Thế nhưng, Nokia vẫn giữ được vị thế số một bởi nhờ vào họ có nhiều sản phẩm trải dài trên nhiều phân khúc. Hàng loạt sản phẩm tuy không có tiếng vang lớn nhưng cũng “gom” đủ thành công cho Nokia. Dưới một chừng mực nào đó, Nokia tuy vậy vẫn có thể hài lòng với 2630, 2600 classic dù chúng không tạo ra những cú hích. Trong năm sau, Nokia dường như tiếp tục đánh mạnh vào dòng máy trung cấp và cấp thấp. Tuy thế, những model như 5800 Xpress Music và N97 có thể xem là át chủ bài cho Nokia vào năm sau trên phân khúc cao cấp. Với sự chuẩn bị nhiều sản phẩm đa dạng cho phân khúc cấp thấp, Nokia trong năm sau chắc chắn vẫn giữ vững ngôi vị thống trị trên thị trường Việt Nam .

Trong khi đó, Samsung năm nay với nhiều chiến thuật bán hàng hiệu quả đã dần có tiếng nói lớn hơn trong nhóm sản phẩm cấp thấp vốn bị Nokia thống trị. Sự “xâm thực” của Samsung bằng loạt sản phẩm C250, C260, C300, X160 đã tạo nền móng tốt hơn cho Samsung trong việc giữ vững ngôi á quân và mở ra một giai đoạn hứa hẹn hơn vào năm sau nếu muốn tăng thị phần. Model M620 có thể sẽ còn thành công hơn nữa nếu không bị bó hẹp trong việc phân phối thông qua nhà phân phối Viettel. Bởi dù sao thì FPT Mobile vẫn có hệ thống phân phối lâu năm hơn. Samsung cũng đạt được dấu ấn khá tốt về mặt hình ảnh qua sản phẩm i900 Omnia nhờ vào việc tiếp cận xu hướng màn hình cảm ứng. năm 2009 có thể là năm thành công của Samsung, thị phần của họ có thể còn tăng hơn nhưng có lẽ việc vượt qua Nokia thì khó thành hiện thực.

Không chỉ có Nokia thiếu nổi bật, Motorola trong năm qua như một đại thần bị thất sủng đang cố gắng “tơ vương khánh tước” bằng vài sản phẩm cấp thấp. Motorola liên tục cho ra một số sản phẩm nghe nhạc chuyên dụng như E8, EM30 nhưng tất cả đều chỉ đủ để trang trí cho các gian hàng hơn là tăng trưởng thị phần. Motorola còn trụ được chủ yếu nhờ vào ba model W230, W270 và về sau có thêm W388. Nhiều khả năng, năm 2009 Motorola lại tiếp tục có vài sản phẩm kiểu như W230 hay W270 để có thể không bị mất hút trên thị trường.

Ngay cả Sony Ericsson dù có nhiều thay đổi với mong muốn nâng cao thị phần như sự thành công của K750, W800 như những tượng đài mà chính Sony Ericsson chẳng thể xô ngã. Chính vì vậy, năm qua Sony Ericsson vẫn tiếp tục không có gì nổi bật. Sự nổi bật nhất trong năm qua có thể nói dành về cho HTC khi họ khá thành công trong việc tạo dựng một HTC Touch Diamond như một đối thủ xứng tầm với iPhone. Chính nhờ đó, HTC ít nhiều thuyết phục được khách hàng. tất nhiên, với phân khúc là dòng hàng cao cấp thì thành công của HTC không đồng nghĩa với một thị phần lớn mà chỉ nên xét ở một nhóm sản phẩm. Cùng với HTC là LG cũng ít nhiều có được những “thay da đổi thịt” đáng kể nhờ vào việc thay đổi chiến lược bán hàng hàng của mình. Chiến lược phân phối trực tiếp và tập trung vào các nhà bán lẻ lớn của LG đã góp phần tạo ra cho họ ít nhiều thành công với một số model như LG KG195, KE770, KE970, KM380… sau đó, LG có đẩy mạnh việc phân phối thông qua nhà phân phối Đức Hiếu để tiếp cận các đơn vị bán lẻ khác nhưng tập trung chính của họ vẫn là các hệ thống lớn. Nhưng chiến lược kinh doanh này chỉ phù hợp trong một giai đoạn như việc thâm nhập trở lại thị trường trong năm qua. Năm 2009, nếu LG muốn thành công hơn thì có lẽ cần phải có chút ít thay đổi cho phù hợp.

Sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến những thương hiệu nhỏ. Trong hàng loạt thương hiệu thì có lẽ Q-mobile được đánh giá là có nhiều thành công dù đến gần giữa năm mới chính thức xuất hiện. Một trong những yếu tố quan trọng chính là việc ít nhiều có sự đầu tư trong việc phát triển sản phẩm và chiến lượng marketing khá tốt. Một lợi thế tiếp theo chính là việc Q-mobile nhanh chóng xâm nhập được vào hệ thống phân phối rộng khắp nhờ vào các kênh phân phối mà chủ sở hữu thương hiệu Q-mobile là ABTel có được. Ngược lại với Q-Mobile chính là ConSpeed khi họ có thể thành công trên một vài thị trường tỉnh lẻ hay các cửa hàng nhỏ lẻ nhưng vẫn chưa hiện diện được tại các hệ thống siêu thị lớn. Đây chính là nhược điểm của ConSpeed. Còn Wellcom dù xuất hiện khá lâu nhưng năm qua vì một số gián đoạn trong vấn đề phân phối khiến họ gặp không ít khó khăn. Các thương hiệu khác như eTouch, Malata, HQ, Bavapen… vẫn không có gì tạo được khởi sắc đáng kể trên thị trường. Riêng Mobell thì có được doanh số đáng kể ở các model M200, M360, M350 và đó cũng chính là những thế mạnh hiện tại của họ. Ngay cả K-Touch được hệ thống Thế Giới Di Động đẩy mạnh phát triển thì cũng chưa tạo được tiếng vang nào trên thị trường. trong năm tới, tình hình các thương hiệu nhỏ chắc cũng không có gì nhiều thay đổi. Bởi về bản chất các thương hiệu này chỉ đóng một vai trò nhất định trên thị trường. Một thành công rực rỡ chỉ đến khi một trong số đó có được một chiến lược phát triển thuyết phục.

Ra sức bành trướng

Tình hình ế ẩm của thị trường khiến cho nhiều đơn vị bán lẻ, đặc biệt là các cửa hàng nhỏ gặp khá nhiều khó khăn. Nhưng ngược lại, với nhiều hệ thống siêu thị điện thoại di động lớn thì đây chính là cơ hội mở rộng thị trường bằng việc liên tục mở thêm các chi nhánh mới. Hai hệ thống hàng đầu là Viễn Thông A và Thế Giới Di Động gần như có mặt ở khắp các quận tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có một vài huyện ngoại thành là các hệ thống này chưa có mặt. Không chỉ thế, họ còn mở rộng ra cả các tỉnh thành ở miền Trung, Tây Nguyên, miền Tây…

Đặc biệt “Bắc tiến” đang là mục tiêu hàng đầu của cả hai hệ thống này. Bằng chứng là Viễn Thông A cũng đã có mặt tại Hà Nội và  Thế Giới Di Động thì nâng tổng số chi nhánh của mình có mặt tại Hà Nội đến 5 điểm. Trong đó, Thế Giới Di Động dường như đang cố nhanh chóng tạo dựng một hệ thống lớn ở đây trước khi Viễn Thông A rầm rộ mở rộng như họ từng làm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều người cho rằng, thói quen “ăn chắc mặc bền” của Viễn Thông  vẫn được họ giữ vững vì họ thường kỹ lưỡng trong việc lựa chọn địa điểm, Viễn Thông A vẫn luôn đề cao “miếng” hơn là “tiếng”. Một điểm chung khác của hai hệ thống này chính là đẩy mạnh việc mở rộng sản phẩm kinh doanh sang cả laptop và các thiết bị hi-tech cá nhân khác. Chính vì thế, Thế Giới Di Động giờ đây gọi mình là Hệ thống siêu thị điện thoại di động – laptop, còn Viễn Thông A thì là Hệ thống bán lẻ hàng công nghệ di động. Mọi thứ đối với hai ông lớn này không còn gói gọn trong ngành điện thoại di động.

Việc mở rộng và đa dạng sản phẩm cũng như hoàn thiện hơn hệ thống quản lý của hai ông lớn có thể xem là cách họ chuẩn bị cho việc xâm nhập của các nhà bán lẻ nước ngoài có thể chính thức gia nhập Việt Nam trong năm 2009. Ngay cả, Phước Lập Mobile trong năm qua cũng cố gắng mở rộng hơn nữa hệ thống của mình dù chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh. Phước Lập tạo dựng cho mình một hướng đi riêng khi tập trung nhiều hơn vào các dòng điện thoại cao cấp. Những chiếc mobile hạng sang như Mobiado, Porsche đã có mặt tại hệ thống này. Khi các hệ thống bán lẻ khác ra sức mở rộng thì hệ thống IN của FPT lại tiếp tục vật vờ bám trụ thị trường. IN gần như không có thêm điểm mới nào trong năm qua và tiếp tục không có dấu ấn nào dù cho có một hậu phương lớn mang tên FPT. Cả hệ thống bán lẻ của Viettel dù có nhiều cố gắng nhưng xem ra vẫn chưa là một hệ thống được khách hàng chú ý lắm.

Vào năm Kỷ Sửu sắp đến, Viễn Thông  A và Thế Giới Di Động vẫn sẽ là ông lớn dẫn đầu trong ngành bán lẻ điện thoại di động tại Việt Nam. Việc mở rộng rầm rộ chắc chắn sẽ còn diễn ra trong năm tới. Nhưng khi nhiều dự báo về thị trường năm 2009 chưa có nhiều điểm sáng thì các hệ thống lớn chắc chắn gặp không ít thử thách.

Ngô Minh Trí

Đây là bài viết tổng kết thị trường viễn thông di động năm 2008 của tôi đang trên eChip M! Xuân 2009. Đây cũng là bản gốc được gởi đi (chưa biên tập).

10 SỰ KIỆN VIỄN THÔNG DI ĐỘNG NĂM 2008

Trong vài năm qua, hàng năm tôi thường có bài đánh giá 10 sự kiện quan trọng nhất trong năm của ngành viễn thông di động Việt Nam cho tạp chí eChip Mobile. Năm nay, tôi cũng có bài bầu chọn và đăng trên eChip M! Xuân 2009, đây là bản do tôi gởi đi (chưa biên tập).

Điểm nhấn lớn nhất của năm nay chủ yếu đa phần thuộc về các nhà mạng với việc chuẩn bị cho nền công nghệ thông tin di động của Việt Nam đạt chuẩn 3G. Bên cạnh đó, thị trường thiết bị đầu cuối vẫn có không ít sự biến động lớn. Sau đây, 10 sự kiện được xem là lớn nhất trong năm qua.

 1. Hội chợ  Vietnam Telecom và Vietnam Electronic 2008

gian hàng SK Telecom tại Vietnam Telecom 2008 (nguồn: Koreaittimes)

Hội chợ triển lãm của ngành viễn thông di động diễn ra từ 26 đến 29 – 11 – 2008 đã phô diễn không ít những ứng dụng công nghệ mới nhất của ngành. Tuy các năm trước, nhiều đơn vị đã giới thiệu những ứng dụng chạy trên chuẩn 3G nhưng điều này mang ý nghĩa rất lớn cho năm nay khi mà năm 2009 sẽ có cuộc thi tuyển chọn nhà mạng cung cấp dịch vụ 3G tại Việt Nam . Nhưng có vẻ vì sự sọi động của các đơn vị cung cấp hạ tầng mạng nên thiếu vắng nhiều gương mặt của các hãng cung cấp thiết bị đầu cuối, chỉ có Samsung tham dự hội chợ bên cạnh đó là “tân binh” Q-Mobile.

2. Viettel, Mobifone và Vinaphone phủ sống GPRS trên cả nước

Bước tiến lớn nhất về dịch vụ của cả ba nhà mạng GSM chính là việc thực hiện xong việc phủ sóng GPRS trên cả nước. Sự kiện này mở ra cho ngành viễn thông di động Việt Nam cơ hội phổ biến các dịch vụ đa phương tiện. Kèm theo đó, các nhà mạng đã nhanh chóng giảm giá cước GPRS khá nhiều. trong đó, Vinaphone và Mobifone còn cung cấp các gói cước GPRS với mức giá khá thấp là 125.000đ/tháng và dùng không giới hạn.

3. Viettel chính thức phân phối Nokia 1209

Trong năm 2007, sau khi Viettel chính thức phân phối điện thoại di động Samsung thì người ta bắt đầu chú ý đến hoạt động của nhà mạng này trong lĩnh vực thiết bị đầu cuối. Viettel tỏ ra tham vọng họ không dừng lại ở Samsung khi thuyết phục thêm được Nokia với model 1209. Model này lúc đầu chỉ được bán tại hệ thống bán lẻ của Viettel nhưng sau đó nhanh chóng bán được tại nhiều hệ thống siêu thị điện thoại di động lớn khác.

4. Giá điện thoại di động tăng theo giá đôla Mỹ

Vào cuối tháng 06 và đầu tháng 07 năm nay, lần đầu tiên một sự kiện “vô tiền khoán hậu” chính là giá điện thoại di động tăng mạnh. Bởi điện thoại di động trên thị trường Việt Nam đa phần là nhập khẩu trả bằng đôla Mỹ. Chính vì thế, khi giá đôla tăng khiến cho nhiều model điện thoại di động đã tăng giá theo. Chính vì sự kiện này, không ít nhà phân phối điện thoại di động được cho rằng phải chịu lỗ khá nhiều.

5. Xuất hiện điện thoại di động GSM chỉ dùng được trên một mạng

Lâu nay, việc bán ưu đãi thiết bị đầu cuối và giới hạn chỉ sử dụng trên một mạng không có gì xa lạ tại Mỹ và Âu Châu, nhưng Việt Nam thì chưa hề có cho mạng GSM. Chính vì thế, Mobifone và Viettel đã cung cấp một số model Motorola W175 (Mobifone), Nokia 1200 (Viettel), Samsung E1110 (Viettel) chỉ dùng được trên các mạng này. Nhưng thật ra thì người mua gần như vẫn phải trả đủ tiền mua máy và mức ưu đãi cũng có giới hạn.

6. Tạm ngưng đăng kí thông tin thuê bao trả trước qua SMS và website

Sau một thời gian việc đăng kí thông tin thuê bao trả trước qua tin nhắn và web site được thực hiện thiếu chặt chẽ vì cơ sở hạ tầng thông tin chưa hoàn thiện. Tháng 10 vừa qua, chính phủ quyết định các nhà mạng tạm ngưng cho phép đang kí thông tin thuê bao trả trước qua SMS và website. Việc đăng kí chỉ được thực hiện tại các trung tâm dịch vụ khách hàng của các nhà mạng. Theo như chỉ đạo của chính phủ, khi nào Bộ Công An hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thông tin cá nhân thì dựa trên đó các nhà mạng có thể tiến hành rà soát và cho phép đăng kí qua SMS và web site trở lại.

7. HT Mobile từ bỏ CDMA

Chỉ sau một năm chính thức xuất hiện, HT Mobile phải từ bỏ công nghệ CDMA. Vì một số giới hạn trong việc phát triển công nghệ này tại Việt Nam, một nhà mạng từng có tiếng vang ban đầu khá tốt là HT Mobile đã phải từ bổ chuẩn công nghệ mình theo đuổi bao năm qua. Việc HT Mobile từ bỏ CDMA khiến cho thế quân bình giữa GSM và CDMA tại Việt Nam bị phá vở khi chỉ còn EVN và Sfone cung cấp CDMA. Một lần nữa, CDMA thất bại trong việc chinh phục người tiêu dùng Việt.

8. Touch screen sôi động

Bắt nguồn từ sự thành công của iPhone năm trước rồi iPhone 3G năm nay, thị trường điện thoại di động Việt Nam  quan tâm hơn nhiều đối với dòng sản phẩm Touch Screen từng bị bỏ quên. Tín hiệu vui của dòng Touch screen bắt nguồn từ những cải tiến công nghệ của dòng sản phẩm này. Không chỉ có iPhone, thị trường Việt Nam còn có sự góp mặt đông đảo của HTC với HTC Touch Diamond,  HTC Touch HD, Samsung F480, Samsung i900 Omnia hay vài model của Eten. Đồng hành cùng sự kiện này, HTC ghi dấu bằng một showroom khá hoành tráng tại Hồ Chí Minh.

9. Viễn Thông A, Thế Giới Di Động hãnh tiến

Hai hệ thống siêu thị điện thoại di động được giới kinh doanh cho là lớn nhất hiện nay đã có một năm “bành trướng” mạnh mẽ. Trong năm nay, hai hệ thống này chính thức mở rộng ra rất nhiều tỉnh thành khác nhau chứ không còn gói gọn trong một hai tỉnh thành. Đây được xem là dấu mốc quan trọng trong việc hai ông lớn này chạy đua phát triển thành hệ thống bán lẻ cả nước khi mà nhiều hệ thống bán lẻ nước ngoài đang ngấp nghé thị trường Việt Nam, bởi ngày 01 – 01 – 2009 các hệ thống bán lẻ nước ngoài được tự do gia nhập thị trường Việt Nam.

10. Tình hình ế ẩm kéo dài

Một trong những điều khó quên nhất của giới kinh doanh điện thoại di động trong năm 2008 chính là tình hình kinh doanh ế ẩm kéo dài. Việc kinh tế đình trệ khiến cho tình hình kinh doanh điện thoại di động cũng chịu tác động không nhỏ. Kéo dài từ tháng 08 đến những ngày mua sắm cuối năm, thị trường vẫn chưa cho thấy có sự khởi sắc nào đáng kể. Đây được xem là một sự kiện buồn nhất của ngành.

Ngô Minh Trí