BÌNH LUẬN VỘI VÃ

Vẫn tự nhủ sẽ đứng ngoài cuộc thị phi trên thế giới ảo. Tuy nhiên, đọc bài viết “Bà Clinton đã thất bại ra sao tại Bắc Kinh?” thì chẳng thể không nói. Tôi xin đi vào từng phần bài viết và đánh giá bằng những nhận định khách quan.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và người đồng cấp Indonesia Marty Natalegawa – Ảnh: Thanh Niên

Phần thứ nhất không có gì quan trọng vì đoạn này chỉ mang tính chất gợi mở để nói đến chuyến đi chẳng mấy thuận buồm xuôi gió của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.

Ai bị động?

Đoạn tiếp theo là: “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc!”. Trong phần này, hình như tác giả chỉ xét đến mỗi điểm đến Trung Quốc. Tuy nhiên, nước này chỉ là một trong 6 điểm đến trong chuyến công du của bà Clinton kéo dài từ ngày 30.8 – 9.9. Sáu điểm đến bao gồm: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Đông Timor, Brunei và Nga. Trong số này, Nga là điểm mà bà Clinton phải đến để dự APEC thay Tổng thống Mỹ Barack Obama bận chuyện tranh cử. Với 5 điểm còn lại thì hết 4 điểm đến nhằm mục tiêu bao vây Bắc Kinh.

Cụ thể, bà Clinton đến quần đảo Cook để dự Hội nghị thượng đỉnh Nam Thái Bình Dương nhằm đảm bảo ảnh hưởng tại đây, vốn là khu vực cửa ngõ nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Khi Washington giữ vững Nam Thái Bình Dương, Bắc Kinh khó có cơ hội đặt căn cứ chuyển tiếp tại đây để vươn ra Ấn Độ Dương, tạo ảnh hưởng ngược lên Trung Đông và Địa Trung Hải.

Điểm đến thứ hai là Indonesia. Giới phân tích đều hiểu rằng Indonesia đang muốn nhấn mạnh vai trò tại ASEAN nên vừa qua rất năng nổ trong việc giải quyết bất đồng tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Sau đó, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa ngược xuôi để ra được tuyên bố 6 điểm về biển Đông. Vì thế, Washington đang ra sức gia cố quan hệ với Jakarta để tranh thủ ảnh hưởng. Giữa tháng 8, không chỉ đẩy nhanh kế hoạch tài trợ chiến đấu cơ F-16 cho Indonesia, Washington còn tuyên bố sẵn sàng cung cấp thêm loại máy bay này cho Jakarta. Trước chuyến đi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland tuyên bố với báo giới một cách rõ ràng rằng: biển Đông là một trong những nghị trình quan trọng chính yếu của đợt công du. Trong chuyến công du trên, khi máy bay đang lơ lửng giữa không trung để đến Indonesia – điểm đến thứ hai, bà Clinton đã đưa đi thông điệp rõ ràng về biển Đông. AFP dẫn lời bà tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng các nước trong khu vực nên cộng tác cùng nhau để giải quyết tranh chấp mà không hề bị ép buộc, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định nước này có “lợi ích quốc gia” trong việc đảm bảo hòa bình và ổn định trên biển Đông. Đây là thông điệp rất rõ ràng cho Trung Quốc, điểm đến thứ ba. Lời tuyên bố như thế là quá rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với biển Đông.

Chưa vội bàn việc bà Clinton đến Trung Quốc. Hai điểm đến tiếp theo là Brunei và Đông Timor. Với Brunei, đây sẽ là nước giữ ghế chủ tịch ASEAN vào năm sau. Vì thế, người ta có quyền xem chuyến thăm đến Brunei là nỗ lực của Mỹ nhằm vận động hành lang, tránh để lặp lại sự cố Campuchia như vừa qua. Cuối cùng, Đông Timor, một nước khá thân cận với Indonesia và cũng là thành viên sắp tới của ASEAN. Việc tranh thủ Đông Timor cũng là cách để Mỹ cạnh tranh nhằm có thêm sự ảnh hưởng tại ASEAN.

Với một nội dung công du như thế, chắc chắn, Washington từ sớm chẳng kỳ vọng bà Clinton sẽ được đón tiếp nồng ấm tại Bắc Kinh. Sự lạnh nhạt của Trung Quốc là dễ hiểu. Đồng thời, đó là sự lạnh nhạt thụ động khi Mỹ đi “ngoại giao” nhưng từ sớm thể hiện rõ thái độ “bao vây”.

Cũng chính vì vậy, việc Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tỏ ra cứng rắn cũng là điều dễ hiểu. Có lẽ, với những bộ não đầy sạn tại Washington thì họ cũng đã dự tính trước kịch bản trên. Vì thế, chẳng có bẫy nào ở đây để Ngoại trưởng Clinton “sập” đến mức “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc” như bài viết của tác giả Danh Đức đề cập.

Phần tiếp theo của bài viết là: “Phục hận năm xưa”. Theo những gì vừa đề cập, Bắc Kinh đang phản ứng thụ động chứ chẳng phải “phục hận” bằng một chiếc bẫy giăng từ sớm. Trong phần này, tác giả còn cho rằng “chỉ hai giờ trước khi bà Clinton rời Bắc Kinh, loan báo tin truy tố Vương Lập Quân, nguyên giám đốc Công an Trùng Khánh, từng tìm cách xin tị nạn trong Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô vào tháng 2 vừa qua”. Thực tế, việc loan tin (không chính thức) thời điểm xét xử ông Vương đã có từ hồi cuối tháng 8. Mãi đến ngày 14.9, tòa án TP. Thành Đô, Trung Quốc, mới chính thức đưa tin xét xử ông Vương vào ngày 18.9. Vì thế, dựa vào tình tiết trên để bình luận thì hơi võ đoán. Ngoài ra, tác giả quên rằng, một đại diện của Bắc Kinh vào Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô để “đón” Vương Lập Quân đi về. Điều đó được xem là một trong những bằng chứng cho thấy ông Vương thực sự không có nhiều giá trị để Mỹ phải giữ lại.

Nhập nhằng nợ nần

Tiếp đến, trong phần: “Nợ vay khó trả”, tác giả dùng việc TQ đang là chủ nợ lớn của Mỹ để chứng minh Washington lệ thuộc Bắc Kinh. Nợ công của Mỹ đang là 16.000 tỉ USD nhưng tín nhiệm tín dụng nước này khác xa các quốc gia Nam Âu. Khi cần, Mỹ thừa sức huy động thêm tiền ngàn tỉ để trả TQ.

Tuy nhiên, thực tế Bắc Kinh khó dùng chuyện nợ để uy hiếp Washington vì đó cũng là cái giá mà TQ đang trả vì tăng trưởng kinh tế lệ thuộc vào xuất khẩu. Dân TQ còng lưng làm để dân Mỹ ra sức xài, Bắc Kinh nhận về đống giấy nợ vô tri vô giác. Dự trữ ngoại tệ nhiều nhưng dự trữ vàng, tính ổn định cao hơn, đang là thách thức của TQ. Vàng vẫn là thứ bảo chứng hữu hiệu hơn đống giấy nợ kia. Có thời gian, sẽ phân tích kỹ hơn về quá trình Mỹ bảo chứng USD bằng vàng với tỉ giá cố định 35 USD cho 1 ounce vàng. Phân tích chuyện này mới thấy Mỹ ăn dày và chắc như thế nào trong suốt gần 30 năm từ thập niên 1940 đến 1970.

Philippines hết cần Mỹ?

Phần cuối cùng, tác giả đặt câu hỏi: “Quan hệ Mỹ – Philippines có xuống cấp?”. Tác giả Danh Đức sử dụng sự kiện Philippines mua Airbus mà không mua Boeing để góp phần định hướng câu trả lời. Thực tế cho thấy, một hợp đồng trị giá 7 tỉ USD thì chắc chắn phải được bàn thảo từ rất lâu, trong khi Trung Quốc – Philippines chỉ mới căng thẳng quá mức từ sau vụ đụng độ ở bãi cạn Scarborough vào ngày 10.4. Ngoài ra, cũng cần xét đến yếu tố khách quan là hợp đồng trên của hãng hàng không thương mại nên phụ thuộc vào loại máy bay mà họ chọn lựa thì Airbus hay Boeing mạnh hơn. Mỹ chẳng thể ngang ngược đến mức ép buộc đối tác phải mua hàng ngay cả khi không phù hợp.

Tiếp theo, tác giả bình luận về việc tàu tuần duyên BRP Gregorio del Pilar. Ở đây, không rõ là tác giả viếc sai hay vì lỗi biên tập, chiếc tàu trên là tàu “tuần duyên” không phải “tuần dương” như bài viết đề cập. Hai loại tàu này rất khác nhau về qui mô. Tác giả cũng cho rằng vì không được Mỹ đưa cho tàu xịn nên Philippines chuyển qua cầu viện Nhật Bản và được viện trợ 12 tàu tuần tra (cỡ nhỏ). Thực tế, Nhật Bản chưa chính thức công bố  sẽ cung cấp loại tàu đến mức độ nào và ưu đãi ra sao. Ngoài ra, Tokyo và Manila đã thảo luận việc viện trợ trên từ lâu, chỉ là công bố rộng rãi trong một thời điểm nhạy cảm. Từ năm 1990, Nhật Bản đã bắt đầu chương trình hỗ trợ hiện đại hóa Lực lượng tuần duyên Philippines. Đây cũng là một phần trong nỗ lực của Tokyo nhằm thắt chặt quan hệ tại Đông Nam Á. Ngoài ra, trong tình thế hiện tại, Philippines chẳng có lý do gì để từ chối những viện trợ như thế. Vì thế, sẽ rất gượng ép khi đánh giá động thái nhận viện trợ đã chứng minh quan hệ Washington – Philippines xuống cấp. Ngoài ra, tác giả cho rằng “Bực dọc, Philippines gõ cửa chỗ khác tự mua cũng chính các khẩu phòng không hai nòng tác xạ tự động Mk.38 để cho tàu của mình đừng trở thành “bia bắn””. Là một người từng có nhiều bài viết về quân sự, tác giả Danh Đức thừa hiểu rằng khẩu MK.38 chẳng giúp gia tăng thêm sức mạnh đáng kể cho tàu chiến. Đồng thời, tác giả cũng bỏ qua chi tiết Bộ Quốc phòng Philippines ngày 10.9 tuyên bố sẽ lắp tên lửa đối hải Harpoon cho tàu chiến BRP Gregorio del Pilar. Harpoon là tên lửa trứ danh của Mỹ chuyên chống tàu chiến. Không cần bàn thêm cũng hiểu việc trang bị loại hỏa tiễn này sẽ tăng thực lực thế nào cho tàu chiến Philippines. Đó là chưa nói đến việc tàu chiến Mỹ liên tục cập cảng Philippines trong thời gian qua. Diễn biến này là những động thái có tác động lớn về chính trị lẫn ngoại giao.

Xin kết thúc tại đây và bỏ qua việc đánh giá  quan điểm cá nhân của bài viết.

Ngô Minh Trí

Advertisements

BƯỚC XUỐNG ĐỂ TIẾN LÊN

Ông Lý Quang Diệu đã bước xuống để đất nước có thể tiến lên

 Ngày 14.05.2011, bộ trưởng cố vấn Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) và bộ trưởng cao cấp Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) của Singapore bất ngờ tuyên bố rút khỏi nội các của Singapore, đang do thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu, lãnh đạo.

Từ năm 1959 đến nay, ông Lý Quang Diệu luôn là một lãnh đạo chủ chốt với 31 năm đảm nhiệm chức vụ thủ tướng, 14 năm trong cương vị bộ trưởng cao cấp trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống và là bộ trưởng cố vấn từ năm 2004 đến nay. Trong suốt quá trình đó, Singapore đã phát triển từ vị trí của một cảng biển kém phát triển, một đất nước thuộc thế giới thứ ba không có cơ sở kinh tế nào đáng kể, thiếu thốn tài nguyên nhưng đã phát triển mạnh mẽ để trở thành một quốc gia phát triển của thế giới thứ nhất với thu nhập đầu người khoảng 48.000 đô la Mỹ vào năm 2010. Cho nên, quyết định trên của ông Lý Quang Diệu và ông Ngô Tác Đống là một dấu ấn quan trọng không chỉ đối với chính trường Singapore mà còn quan trọng đối với cả đảo quốc sư tử.

Cũng vì thế, trước quyết định trên của ông Lý Quang Diệu, một số ý kiến tỏ ra hối tiếc và mong muốn ông Lý Quang Diệu tiếp tục hiện diện trong nội các chính phủ. Goh Yook Kim, một công dân Singapore 70 tuổi đã nghỉ hưu, nói rằng đó là một “điều đáng tiếc”, cho rằng: “Điều đó giống như có một kho báu và chúng ta ném kho báu ấy đi”. Goh Yook Kim là một trong trong số 120 người dân được nhật báo Straits Times (Singapore) thăm dò ý kiến về việc từ chức của hai bộ trưởng. Hầu hết những người được hỏi chỉ ra rằng việc bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô tiếp tục tại chức là cần thiết hơn để đưaSingapore tiến lên.

Tuy nhiên, không phải ai cũng nghĩ như thế. Trong cuộc phỏng vấn của Straits Times, nhà kinh doanh Chung Peng Hock, 48 tuổi, nói rằng: “Với sự thiếu vắng bộ trưởng cố vấn Lý trong bức tranh (nội các), các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ sẽ có cơ hội để chứng minh rằng họ có khả năng lãnh đạo đất nước của mình mà không phải dựa vào ông ấy”. Còn Cham Mooi Kiong, 58 tuổi và là chủ một cửa hàng tiện lợi, cho rằng thủ tướng Lý Hiển Long đã sẵn sàng tự lãnh đạo nội các của mình từ lâu khi nhận xét rằng: “Thủ tướng Lý (Hiển Long) đã sẵn sàng xây dựng đội ngũ của riêng ông ấy trong năm năm qua. Thật là không công bằng nếu nói rằng ông ta có thể lãnh đạo kể từ bây giờ khi bộ trưởng cố vấn và bộ trưởng cao cấp từ chức”.

Không những thế, có cả ý kiến thẳng thắn cho rằng sự ở lại của hai bộ trưởng là không cần thiết. Nhân viên ngân hàng Crystal Chan, 28 tuổi, trả lời phỏng vấn của Straits Times là: “Tôi nghĩ rằng cuộc bầu cử vừa qua đã cho thấy một điều khá rõ ràng là cả bộ trưởng cố vấn lẫn bộ trưởng cao cấp đều đã đánh mất sự tiếp xúc với thế hệ trẻ, và nếu họ ở lại trong nội các thì họ chỉ đóng vai trò như cái bóng trong các chính sách của thủ tướng mà thôi”.

Một số chuyên gia cũng có nhận định là lẽ ra bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô nên từ chức sớm hơn. Bridget Welsh, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, phát biểu với hãng thông tấn AFP là: “Việc nghỉ hưu của ông Lý Quang Diệu đã dài quá hạn, vì ông ấy đã mất kết nối với thế hệ Singapore hiện tại”. Reuters trích dẫn Eugene Tan, trợ lý giáo sư tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, nhận xét việc xem ông Lý Quang Diệu như một lãnh đạo toàn năng là “lỗi thời” và “thậm chí là độc tài”.

Kết quả của cuộc bầu cử vừa qua cho thấy những nhận xét của các chuyên gia là xác đáng. Trong cuộc bầu cử vừa qua, mặc dù đảng Nhân dân hành động (PAP) của ông Lý Quang Diệu vẫn chiếm áp đảo 81 ghế trong số 87 ghế tại quốc hội nhưng đã có một sự giảm sút đáng kể trong tín nhiệm của người dân khi tỷ lệ bầu cho PAP chỉ còn 60,1%, mức thấp kỷ lục kể từ khi PAP được thành lập. Tỷ lệ ủng hộ dành cho PAP đã giảm nhanh trong mười năm qua khi tỷ lệ bỏ phiếu dành cho PAP vào năm 2001 là 75% và năm 2006 là 67%. Vị thế của lực lượng đối lập cũng tăng lên khi các đảng đối lập chỉ dám tranh cử 47 ghế trong 84 ghế tại cuộc bầu cử năm 2006 thì nay họ đã dám tranh cử 82 trong 87 ghế trong cuộc bầu cử quốc hội vừa qua.

Khi PAP đang mất dần sự ủng hộ của dân chúng thì quyết định của ông Lý Quang Diệu là để chứng tỏ với người dân rằng PAP đang thay đổi, nhằm lấy lại sự ủng hộ của người dân. Mặc dù có thể quyết định trên không tạo ra sự thay đổi chính sách của PAP như Eugene Tan nhận xét, nhưng dù sao đi nữa thì quyết định thoái lui của ông Lý Quang Diệu có thể xem là một quyết định phù hợp với những chuyển biến của ý chí người dân, như những nhận xét trên.

Như thế, một lần nữa, Lý Quang Diệu cho thế giới thêm một bài học về cầm quyền. Bài học đó là dù người lãnh đạo có đóng góp nhiều như thế nào cho đất nước thì vẫn phải tuân theo ý chí của người dân chứ không phải mãi là người dẫn đường dân chúng, người lãnh đạo phải sẵn sàng bước xuống để đất nước tiến lên.

Ngô Minh Trí

ASEAN TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC

Khối ASEAN đang loay hoay trước những thách thức (ảnh: Internet)

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 đã khép lại mà không có thành quả nào đáng kể trong khi ASEAN đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài khối.

Trước khi Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 diễn ra tại thủ đô Jakarta, Indonesia, trong hai ngày 07 và 08.05.2011, báo Straits Times (Singapore) đã đăng bài “Xung đột che phủ hội nghị cấp cao ASEAN” (Conflicts cloud ASEAN summit). Thực tế là như thế! Cuộc xung đột biên giới, bắt đầu từ cuối tháng tư vừa qua, giữa hai thành viên của ASEAN là Thái Lan và Campuchia đã khiến cho 18 người thiệt mạng và khoảng 85.000 người phải bỏ nhà cửa đi lánh nạn. Bangkok Post (Thái Lan) dẫn lời tổng thống Philippine Benigno Aquino nói với phóng viên trước thềm hội nghị rằng sự đoàn kết của ASEAN có thể bị đe doạ và quan ngại cuộc xung đột có thể tồi tệ hơn.

Thế nhưng, kết thúc hội nghị cấp cao ASEAN, lãnh đạo các nước thành viên của khối chỉ đi đến một tuyên bố chung rằng xung đột “nên được giải quyết một cách thân thiện trên tinh thần của sự đoàn kết ASEAN”. Cuộc họp ba bên giữa tổng thống Indonesia, chủ tịch đương nhiệm của ASEAN, thủ tướng Campuchia và thủ tướng Thái Lan cũng không khai thông được bất đồng giữa hai nước. Thái Lan cho phép bố trí quan sát viên quân sự của Indonesia tại khu vực xung đột nếu Campuchia triệt thoái quân đội khỏi khu vực ấy – một điều kiện mà Campuchia cho là phi lý và không thể chấp nhận được. Các bộ trưởng ngoại giao Thái Lan và Campuchia phải ở lại Jakarta thêm một ngày sau hội nghị thượng đỉnh để tiếp tục họp kín với ngoại trưởng nước chủ nhà trong một cuộc họp kéo dài ba tiếng đồng hồ mà ngoại trưởng Indonesia cho là “có tính xây dựng và hiểu biết lẫn nhau” nhưng kết quả như thế nào, hai bên có đạt được thoả thuận hay không, nội dung thoả thuận như thế nào, cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính xác nào được tiết lộ cho báo chí.

Như vậy, ASEAN đã không giải quyết được xung đột giữa Thái Lan và Campuchia. Báo Bangkok Post đã không ngần ngại bình luận là “ASEAN có lập trường nhút nhát”. Lý giải cho thất bại này, Banbarto Bandoro, giáo sư về quan hệ quốc tế tại đại học quốc phòng Indonesia, phát biểu trên New York Times rằng ASEAN bị hạn chế trong việc giải quyết vấn đề của các thành viên vì “nguyên tắc không can thiệp”. Ông Banbarto Bandoro nhận xét thêm: “Nếu các quốc gia ASEAN tiếp tục giữ vững nguyên tắc không can thiệp được gọi là thiêng liêng, thì tôi cảm thấy bi quan với việc ASEAN sẽ có khả năng giải quyết các vấn đề trong tương lai”.

Quả thực, kỳ vọng vào khả năng của ASEAN đã bị giảm đi sau sự thất bại này. Mục tiêu của đề án phát triển cộng đồng kinh tế chung cho ASEAN vào năm 2015, để người dân và hàng hoá các nước thành viên có thể tự do di chuyển, cũng bị nghi ngờ về khả năng thành công. ASEAN luôn kỳ vọng rằng sự thống nhất sẽ tạo đà phát triển cho một khu vực kinh tế trị giá 1.800 tỷ đô la Mỹ với hơn nửa tỷ dân. Nhưng như tổng thống Philippine Benigno Aquino cũng tỏ rõ sự lo ngại: “Làm thế nào chúng ta có thể có một ASEAN như một gia đình khi mà hai thành viên chính không thể giải quyết vấn đề của họ?”.

Ngoài xung đột biên giới Thái Lan – Campuchia, nội bộ ASEAN đã tồn tại không ít các bất đồng và va chạm quyền lợi; điển hình là vấn đề đập thuỷ điện Xayaburi gần đây. Tuy dự án Xayaburi đã được tạm hoãn nhưng đó cũng là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc thiếu sự hợp tác đầy đủ giữa các nước thành viên Uỷ hội sôngMekongvà cũng là các thành viên của ASEAN. Xayaburi chỉ là một trong hàng loạt các dự án thuỷ điện đang gây tranh cãi giữa các thành viên của khối.

Sự đoàn kết của ASEAN còn bị thử thách bởi các quốc gia ngoài khối. Điển hình như quan hệ giữa các thành viên của ASEAN với Trung Quốc. Trước khi hội nghị cao cấp ASEAN lần thứ 18 diễn ra, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã tiến hành công du đến hai thành viên của khối ASEAN là Malaysia và Indonesia. Ông Ôn Gia Bảo đã ca ngợi Malaysialà: “người anh em tốt, người hàng xóm thân tình”. TạiIndonesia, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết những khoản đầu tư nhiều tỷ đô la Mỹ cho nước này.  Các thành viên của ASEAN đang có những lợi ích riêng biệt trong quan hệ với Trung Quốc mà nhiều khi lợi ích đó hoàn toàn không phù hợp với quyền lợi chung của nhóm.

Khi ASEAN không chứng minh được sự thống nhất và đoàn kết của khối thì kỳ vọng xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) vào năm 2012 cũng trở thành một thử thách. Trong thực tế, ASEAN và Trung Quốc đã ký một Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) từ năm 2002 nhưng đến nay vẫn chưa có một bước tiến nào để biến thành các quy định cụ thể.

Trong ngắn hạn, thử thách cho ASEAN còn là vấn đềMyanmarđảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2014. Nếu ASEAN không đồng ý cho Myanmar làm chủ tịch luân phiên thì rất dễ gây rạn nứt nội bộ, nhưng nếu ASEAN đồng ý thì sẽ khó xử trong quan hệ với phương Tây khi mà phương Tây đưa Myanmar vào nhóm quốc gia vi phạm nhân quyền. ASEAN sẽ phải quyết vấn đề trên trong hội nghị cấp cao lần thứ 19 tới đây tạiBali.

Một khối liên quốc gia như ASEAN chỉ thực sự mạnh mẽ khi có thể giải quyết được vấn đề của các thành viên cũng như sự thống nhất của khối. Thế nhưng, ASEAN đang loay hoay trong các thử thách trên.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 12.05.2011

HOA KỲ VÀ “HẬU BIN LADEN”

Ông Obama sẽ làm những gì sau khi Bin Laden bị tiêu diệt? (ảnh: AP)

Giữa lúc nước Mỹ đang rối bời với nợ công sắp đụng trần, thâm hụt ngân sách trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn đang cao, đồng đô la ngày càng mất giá… thì cái chết của Osama Bin Laden đã phần nào đem đến sự hân hoan cho nước Mỹ. Với tổng thống Barack Obama, cái chết của Bin Laden là “thành tựu” đáng kể để ông chứng minh rằng mình đã phần nào làm tròn lời hứa khi tranh cử. Nhờ đó, hình ảnh của ông Obama trong mắt cử tri Mỹ đã cải thiện phần nào sau một loạt sụt giảm vì kinh tế ảm đạm. Hầu hết các cuộc khảo sát của CNN, Reuters, Washington Post sau cái chết của Bin Laden đều cho kết quả khả quan đối với tổng thống Barack Obama. Uy tín gia tăng đang là một yếu tố quan trọng đối với tổng thống Barack Obama cho chiến dịch tranh cử tổng thống nhiệm kỳ kế tiếp vào năm sau.

Tuy nhiên, cái chết của Bin Laden không chỉ đơn thuần giúp cho tổng thống Barack Obama cứu vãn hình ảnh của mình mà còn là cơ hội để Hoa Kỳ thoái lui khỏi chiến trườngAfghanistan. Rõ ràng, Afghanistan không còn là cứ điểm duy nhất của Al Qaeda nói riêng và khủng bố nói chung, nên việc duy trì chiến trường Afghanistan chẳng đem nhiều lợi ích cho Mỹ. Ngoài ra, mặc dù cái chết của Osama Bin Laden chưa đủ sức giải quyết dứt điểm cuộc chiến chống khủng bố nhưng là cơ hội để vấn đề Afghanistan nhanh chóng ổn định hơn. Từ tháng mười năm ngoái, Hoa Kỳ và chính phủAfghanistanđã mở ngỏ để lực lượng Taliban tham gia chính quyền. Bin Laden chết đi xem như lãnh tụ tinh thần không còn, nên đây sẽ là cơ hội để chính phủAfghanistanvà lực lượng Taliban có cơ hội tìm được tiếng nói chung.

Cho nên, cái chết của Osama Bin Laden lần này có thể tạo ra một lý do hoàn hảo để Mỹ thoái lui trong danh dự ra khỏi cuộc chiếnAfghanistan, một cuộc chiến không chỉ không đem lại kết quả như mong muốn mà còn tiêu tốn một khoản kinh phí khổng lồ.

Từ khi bắt đầu vào năm 2001 đến nay, chiến phí dành cho cuộc chiến Afghanistan đã tiêu tốn khoảng 401 tỷ USD, chi phí cho năm 2011 ước tính khoảng 107,3 tỷ USD. Thế nên, khi Hoa Kỳ rút lui khỏi chiến trường Afghanistan và thoái lui hoàn toàn khỏi Iraq sẽ giúp cho Hoa Kỳ cắt giảm khoản ngân sách đáng kể, tổng ngân sách ước tính cho chiến trường Afghanistan và Iraq trong năm 2011 lên đến 172,4 tỷ USD. Cùng với khoản tiết kiệm từ chiến phí nói trên, khoản cắt giảm ngân sách quốc phòng hàng trăm tỷ USD trong kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách tổng thống Obama sẽ có thể tạo ra những kết quả tích cực hơn cho kinh tế Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, việc rút khỏi “bãi lầy” Afghanistan còn cho phép Hoa Kỳ được “rảnh tay” để có thể ra sức tái khẳng định vị thế của mình.

Chính vì vậy, mặc dù cái chết của Bin Laden sẽ không là hồi kết cho cuộc chiến chống khủng bố mà Hoa Kỳ phát động, nhưng ảnh hưởng của nó đến Hoa Kỳ sẽ là không nhỏ.

Ngô Minh Trí

CUỘC “VẠN LÝ TRƯỜNG CHINH” CỦA NHÂN DÂN TỆ

Trung Quốc có nâng vị thế đồng NDT và hạ bệ đô la Mỹ (ảnh: Reuters)

Đến nay, mặc dù Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng Nhân dân tệ (NDT) vẫn chưa là một loại tiền tệ quốc tế. Và để nâng NDT thành một đồng tiền quốc tế, Trung Quốc đang nỗ lực bắt đầu một cuộc “vạn lý trường chinh”.

Thúc đẩy giao thương bằng Nhân dân tệ

Theo Wall Street Journal, vào thứ ba tuần trước (19.04.2011), một quan chức cao cấp trong ngành tài chính Hongkong đã cho biết Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang “tích cực xem xét” những quy định mới để giúp việc mang nhân dân tệ quay trở lại Trung Quốc được dễ dàng hơn. Hiện tại, Trung Quốc vẫn đang thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt các dòng tiền ra vào nền kinh tế Trung Quốc. Với chiều hướng thay đổi đó, Bắc Kinh muốn tạo niềm tin cho các đối tác nước ngoài rằng có thể dễ dàng sử dụng NDT đầu tư trở lại Trung Quốc để các đối tác có thể chấp nhận thanh toán bằng NDT trong giao thương.

Thứ hai tuần trước (18.04.2011), Tân Hoa Xã trích dẫn báo cáo của một quan chức Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết giá trị giao thương quốc tế của NDT trong quý một năm nay đã đạt 7% tổng ngoại thương của Trung Quốc, một sự tăng trưởng đáng kể khi tỷ lệ trên chỉ là 5,7% trong quý tư và 0,5% trong quý một năm trước. Như vậy, trong quý một vừa qua, giá trị ngoại thương bằng NDT đã tăng từ mức 309,3 tỷ NDT (tương đương 47,3 tỷ đô la Mỹ) của quý trước lên thành 360,3 tỷ NDT (tương đương 55,2 tỷ đô la Mỹ), gấp hai mươi lần so với con số 18,4 tỷ NDT (tương đương 2,8 tỷ đô la Mỹ) của cùng kỳ năm trước.

Những con số tăng trưởng không ngừng của giá trị ngoại thương bằng NDT là kết quả của những nỗ lực không ngừng của Bắc Kinh để tăng cường khả năng giao thương của NDT. Tháng 12 năm ngoái, Trung Quốc đã nâng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu được phép sử dụng NDT trong ngoại thương từ mức vài trăm lên thành 70.000 doanh nghiệp. Trung Quốc cũng đẩy mạnh cả các thoả thuận thương mại song phương bằng NDT với nhiều quốc gia khác. Cuối năm ngoái, Trung Quốc đã có được sự thoả thuận với Nga để loại bỏ đô la Mỹ ra khỏi giao thương giữa hai nước. Trung Quốc cũng đã có thoả thuận với Brazil để tăng cường thanh toán giao thương song phương bằng NDT hơn là đô la Mỹ. Wall Street Journal đã dẫn lời một quan chức ngành tiền tệ Singapore cho biết rằng Singapore cũng đang đàm phán để thực hiện việc giao thương song phương bằng NDT.

Trung Quốc cũng đang thúc đẩy để các công ty phương Tây và Trung Quốc có thể dễ dàng phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu bằng NDT. Các doanh nghiệp Caterpillar Inc, McDonald’s Corp và Unilever NV trở thành những đơn vị tiên phong cho nỗ lực trên. Tháng tám năm ngoái, MC Donald đã trở thành doanh nghiệp phi tài chính đầu tiên phát hành trái phiếu bằng NDT trị giá 200 triệu NDT (tương đương 29 triệu đô la Mỹ). Nên khi NDT có thể được đầu tư dễ dàng hơn tại Trung Quốc sẽ càng kích thích các doanh nghiệp khác thực hiện huy động vốn bằng NDT.

“Quốc tế hoá” Nhân dân tệ và “hạ bệ” Đô la Mỹ

Để “quốc tế hoá” NDT, Bắc Kinh cũng đang ra sức vận động để NDT có một vai trò lớn hơn trong các định chế tài chính quốc tế. Trước mắt, Bắc Kinh đang muốn NDT nhanh chóng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs (Special Drawing Rights), loại tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mà các quốc gia có thể dùng để dự trữ. Hiện tại, rổ tiền tệ SDRs đang chỉ có đô la Mỹ, Euro, Bảng (Anh) và Yên (Nhật). Trung Quốc đã thể hiện rất rõ tham vọng trên của mình, thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên phát biểu rằng: “Nếu có ai đề nghị rằng NDT nên nằm trong rổ tiền tệ SDRs thì chúng tôi sẽ hoan nghênh ý kiến đó”. Cuối tháng trước, khối G20, về cơ bản, đã đồng ý một tiến trình để NDT có mặt trong rổ tiền tệ của SDRs.

Đó là một trong những nỗ lực thúc đẩy hình thành một hệ thống kinh tế tài chính mà trong đó NDT đóng vai trò trung tâm, hay nói một cách khác là nhằm phát triển NDT trở thành tiền tệ quốc tế. Thông qua việc “quốc tế hoá”, nâng cao vị thế NDT, Trung Quốc cũng muốn tìm cách giảm nhẹ vai trò của Đô la Mỹ. Cho nên, Trung Quốc vẫn đang liên tục vận động để SDRs dần thay thế đô la Mỹ trong dự trữ của các nền kinh tế. Năm ngoái, Trung Quốc đã đưa phó thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Dân làm cố vấn đặc biệt cho chủ tịch IMF Dominique Strauss Kahn nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình trên.

Rủi ro và thử thách

Mặc dù, Trung Quốc đang một số thành công nhất định trong việc “quốc tế hoá” và gia tăng vị thế NDT. Tuy nhiên, nỗ lực trên của Trung Quốc cũng đang vấp phải không ít khó khăn.

Trước hết, tham vọng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs của Trung Quốc đã gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía Hoa Kỳ với lý do Trung Quốc vẫn chưa thả nổi tỷ giá NDT theo thị trường. Tại hội nghị bộ trưởng tài chính khối G20 vào cuối tháng trước, bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Timothy Geithner dù đồng ý là: “Theo thời gian, chúng tôi tin rằng các loại tiền tệ của các nền kinh tế lớn sử dụng nhiều trong các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế sẽ trở thành một phần của rổ tiền tệ SDRs”, nhưng ông Geithner cho rằng: “Để đạt được mục tiêu này, các nước liên quan cần phải có hệ thống tỷ giá linh hoạt, ngân hàng trung ương độc lập và cho phép các dòng vốn tự do”. Hoa Kỳ vẫn luôn chỉ trích rằng Trung Quốc đã không chịu thả nổi tỷ giá của NDT. Dù sao thì Hoa Kỳ vẫn có một vai trò lớn trong IMF nên sự phản đối từ Hoa Kỳ sẽ là cản lực lớn.

Không riêng gì Hoa Kỳ, ngay cả Pháp cũng ngầm cho rằng Trung Quốc phải tiến hành thả nổi tỷ giá NDT nếu muốn có mặt trong rổ tiền tệ SDRs. Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde cũng nhấn mạnh vào tính linh hoạt của tỷ giá tiền tệ và sự độc lập của ngân hàng trung ương. Qua đó, bà Christine Lagarde khẳng định sự thay đổi về việc DNT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs phụ thuộc vào chính quyền Trung Quốc. Ngay cả các thành viên của nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS, trong hội nghị thượng đỉnh vừa qua tại Trung Quốc, cũng chưa nhất trí để có được thoả thuận cho phép NDT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs.

Bên cạnh thử thách để gia nhập rổ tiền tệ SDRs, dự trữ ngoại tệ khổng lồ trị giá hơn 3047 tỷ Đô la Mỹ, mà phần lớn là đô la Mỹ, cũng trở thành một rủi ro khi Đô la Mỹ mất giá mà Trung Quốc vẫn chưa có biện pháp “thanh lý” Đô la Mỹ trong kho dự trữ của mình. Các quốc gia khác vừa không mong muốn đô la Mỹ mất giá nhanh chóng khi đô la Mỹ vẫn là phương tiện dự trữ chính, cũng vừa không sẵn sàng “giảm tải” kho dự trữ khổng lồ trên cho Trung Quốc. Điều đó sẽ khiến cho quá trình đẩy mạnh vai trò dự trữ của SDRs bị chậm đi. Hiện tại, Trung Quốc chỉ đưa được NDT ra nước ngoài và tạo sự luân chuyển tốt hơn nhưng chưa có biện pháp giảm bớt dự trữ đô la Mỹ hay nói cách khác là Trung Quốc đang nan giải với kho dự trữ ngoại tệ, cũng giống như nan giải với tỷ giá linh hoạt vì nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu.

Chính vì thế, “quốc tế hoá” NDT sẽ là cuộc “vạn lý trường chinh” đầy thử thách của Trung Quốc.

Ngô Minh Trí đăng trên tran 66-67 Thời báo Kinh tế Sài Gòn 28.04.2011

MỸ CẮT GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH: BẤT ĐỒNG SÂU SẮC

Ông Obama cam kết duy trì chính sách về y tế, trái với kế hoạch của đảng Cộng hoà muốn cắt giảm chi tiêu cho chính sách này (Ảnh: AP)

Kế hoạch cắt giảm ngân sách mới công bố của tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã bị chỉ trích gay gắt từ đảng Cộng hòa, khiến bất đồng giữa hai đảng về ngân sách càng trở nên sâu sắc hơn.

Ngày 13.04 vừa qua, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có bài phát biểu kéo dài hơn bốn mươi phút tại đại học George Washington. Nội dung của bài phát biểu nói về vấn đề chi tiêu và ngân sách của Hoa Kỳ. Trong đó, tổng thống Obama đã chính thức loan báo một kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách 4000 tỷ USD trong thời gian mười hai năm. Theo kế hoạch, ông Obama sẽ thực hiện cắt giảm chi tiêu khoảng 750 tỷ, cắt giảm ngân sách quốc phòng khoảng 400 tỷ, cải cách chính sách thuê và tiếp tục các cải cách y tế để tiết kiệm cho ngân sách.

Obama “tấn công bất ngờ”

Trước khi Obama loan báo kế hoạch của mình, đảng Cộng hòa đã đề xuất một kế hoạch khác để cắt giảm thâm hụt ngân sách, tác giả là nghị sỹ Paul D. Ryan của bang Wiscosin kiêm chủ tịch Ủy ban ngân sách hạ viện, trị giá 4.400 tỷ USD trong thời gian mười năm. Kế hoạch của đảng Cộng hòa không chỉ có mức độ cắt giảm sâu hơn, nhanh hơn mà còn có nhiều khác biệt so với kế hoạch của tổng thống Obama. Hai khác biệt lớn nhất chính là vấn đề cải cách chính sách y tế và chính sách thuế.

Thế nên, trong bài phát biểu loan báo kế hoạch của mình, tổng thống Barack Obama cũng lên tiếng chỉ trích kế hoạch của đảng Cộng hòa. Ông Obama cho rằng kế hoạch cải tổ chính sách  y tế của đảng Cộng hòa sẽ cắt giảm ngân sách bằng cách bắt những người già và người nghèo trả tiền cho các dịch vụ y tế, trong khi kế hoạch của ông sẽ cắt giảm bằng cách cắt giảm chi phí trong chi tiêu của lĩnh vực y tế và sức khỏe. Theo ông Obama, chính sách cải cách y tế của ông sẽ giảm bớt các khoản trợ cấp lãng phí và các thanh toán không chính xác.

Bàn về chính sách thuế, Obama cho rằng: “Trong tháng mười hai vừa qua, tôi đồng ý gia hạn cắt giảm thuế cho những người Mỹ giàu có nhất bởi vì đó là cách duy nhất tôi có thể ngăn chặn việc tăng thuế của những người Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu”. Vì thế, tổng thống Obama tuyên bố mình sẽ thay đổi để tăng cường đánh thuế người giàu, cắt giảm khấu trừ thuế để có thể đem lại khoản cắt giảm thâm hụt lên đến 1000 tỷ USD trong mười năm.

Sự chỉ trích kế hoạch của tổng thống Obama được Wall Street Journal nhận định là một cuộc “tấn công bất ngờ” vào chính sách của đảng Cộng hòa và của cá nhân thượng nghị sỹ Paul D. Ryan, tổn hại hơn đến hy vọng mong manh về việc hai đảng có thể thỏa thuận được vấn đề ngân sách.

Cộng hòa “phản pháo”

Theo Wall Street Journal, đảng Cộng hòa đã nhanh chóng chỉ trích rằng phát biểu của ông Obama là quá mang tính đảng phái. Phản ứng về phát biểu của tổng thống Obama, Paul D. Ryan cho rằng ông hy vọng hai đảng có thể tìm được tiếng nói chung về việc kiểm soát chi tiêu và cải cách chính sách y tế, nhưng luận điệu “hiếu chiến” của Obama làm cho thỏa thuận trở nên khó khăn hơn. Nghị sỹ Paul D.Ryan cho rằng tổng thống Obama “thay vì xây cầu, ông ấy lại hủy hoại sự tốt đẹp”.

Chủ tịch hạ viện John A. Boehner cũng chỉ trích kế hoạch của ông Obama khi cho rằng kế hoạch của đảng Cộng hòa là “đưa chúng ta vào con đường trả nợ, giúp bảo toàn chăm sóc y tế và trợ giúp y tế trong tương lai”, nhưng “tôi không nghe thấy một kế hoạch phù hợp như thế từ tổng thống Obama”. Không dừng lại ở đó, theo New York Times, ông John A. Boehner còn lặp lại sự đe dọa rằng sẽ không thông qua việc tăng trần nợ công theo đề xuất từ phía Nhà Trắng trừ khi chính phủ đồng ý kiềm chế chi tiêu và thâm hụt.

Trước những bất đồng đang trở nên sấu sắc hơn giữa tổng thống Obama và đảng Cộng hòa, New York Times bình luận rằng: “Kế hoạch nợ của Obama thiết lập một giai đoạn tranh luận dài hơi về vấn đề chi tiêu”.

Ngô Minh Trí – đăng trên SGTT Online

TRUNG QUỐC THÂM HỤT THƯƠNG MẠI TRONG QUÝ I: KHÔNG NHIỀU BẤT NGỜ

Vải nhập khẩu từ Trung Quốc được bày bán ở Kano, đông bắc Nigeria (Ảnh: Reuters)

Tuy đạt thặng dư thương mại trong tháng 3, nhưng tính chung, trong quý đầu năm, nền kinh tế được mệnh danh là công xưởng của thế giới đã phải nhập siêu.

Theo số liệu do tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố vào ngày 10.4.2011, xuất khẩu trong tháng 3 của nước này đã tăng 35,8% và nhập khẩu tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt thặng dư thương mại 140 triệu USD. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thâm hụt thương mại trầm trọng vào tháng trước với con số lên đến 7,3 tỉ USD, nên tính theo cả quý 1 năm nay thì Trung Quốc vẫn thâm hụt 1,02 tỉ USD. Trong quý 1 vừa qua, Trung Quốc đã nhập khẩu 400,66 tỉ USD và xuất khẩu 399,64 tỉ USD.

Tác động của lạm phát?

Sau khi Trung Quốc công bố con số thâm hụt trên, có nhiều phân tích đánh giá về sự kiện này. Nhiều đánh giá cho rằng đó là kết quả của việc lạm phát tăng nhanh tại Trung Quốc khiến cho giá thành sản xuất tăng cao, giảm lợi thế cạnh tranh của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Nhưng trong thực tế, Trung Quốc vẫn đạt được thặng dư thương mại trong tháng 3 từ mức thâm hụt đáng kể của tháng trước, bất chấp lạm phát tăng đến con số 5%. Chính vì thế, lạm phát có thể tạo ra tác động đối với cán cân thương mại của Trung Quốc nhưng khó có thể là nguyên nhân chính.

Một nguyên nhân mà nhiều chuyên gia cũng như báo giới quốc tế nhận định đó là chu kỳ mùa vụ khi Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu mạnh mẽ vào giai đoạn đầu năm. Theo đó, các nhà sản xuất Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu nguyên vật liệu chuẩn bị cho việc sản xuất trong khoảng thời gian còn lại của năm. Tháng 3 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã nhập siêu đến 7,24 tỉ USD nhưng tính trên cả năm thì nước này vẫn đạt thặng dư thương mại đến hơn 180 tỉ USD.

Xu hướng nhập khẩu nguyên liệu vào giai đoạn đầu năm cũng đã khiến cho nhập khẩu của Trung Quốc bị tác động đáng kể khi giá cả thế giới tăng cao trong thời gian qua. Theo Reuters, giá cả của nguyên vật liệu và năng lượng “đầu vào” của Trung Quốc đã tăng đến 29,7%. Một số nguyên vật liệu quan trọng cho sản xuất Trung Quốc đã tăng khá cao, ví dụ giá nhập khẩu quặng sắt, nguyên liệu chính của các nhà sản xuất thép Trung Quốc, đã tăng đến 59,5% so với quý 1 năm trước và làm cho giá trị nhập khẩu quặng sắt tăng đến 82%, đạt mức 27,7 tỉ USD, trong khi số lượng quặng sắt nhập khẩu chỉ tăng 14,4%. Đó là chưa kể giá dầu thô tăng cao cũng khiến cho lượng dầu nhập khẩu chỉ tăng 12% nhưng lại tăng đến 39% giá trị, giá trị nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc trong quý 1 đã lên đến 43,7 tỉ USD. Theo ý kiến của chuyên gia Mark Williams của Capital Economics trên Wall Street Journal thì nếu giá cả thế giới không tăng nhanh, Trung Quốc có thể đạt đến 25 tỉ USD thặng dư thương mại trong cả quý 1 năm nay.

Dự báo thặng dư thương mại lớn

Do giá cả thế giới tăng cao là một diễn biến chung của kinh tế toàn cầu, nên kết quả nhập siêu của Trung Quốc thực sự không mang lại nhiều bất ngờ. Ngược lại, con số thặng dư thương mại trong tháng 3 của Trung Quốc là một sự bất ngờ. Theo Reuters, nhiều chuyên gia từng cho rằng trong tháng 3, nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng 19,5% và xuất khẩu sẽ 21% so với cùng kỳ năm trước nên sẽ tạo ra thâm hụt thương mại 4,2 tỉ USD. Còn một khảo sát khác của Bloomberg thì cho rằng thâm hụt thương mại của Trung Quốc trong tháng 3 sẽ vào khoảng 3,35 tỉ USD. Như vậy, kết quả nhập siêu trên cả quý 1 của Trung Quốc vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia.

Chính vì thế, theo nhiều nhận định thì Trung Quốc vẫn đạt được mức thặng dư thương mại đáng kể trong cả năm 2011. Theo Wall Street Journal, chuyên gia kinh tế về Trung Quốc của UBS là Wang Tao cho rằng Trung Quốc sẽ vẫn đạt thặng dư thương mại đến 150 tỉ USD trong năm 2011, còn Xianfang Ren và Alistair Thornton của HIS Global Insight thì cho rằng con số thặng dư thương mại trong năm 2011 của Trung Quốc là 250 tỉ USD.

Ngô Minh Tríđăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 13.04.2011