MỐI LO NGẠI TỪ HUAWEI

Huawei đang phát triển mạnh trên toàn cầu nhưng lại gây quan ngại về an ninh - Ảnh: China-defense-mashup.com

Một số nước và vùng lãnh thổ đang quan ngại sâu sắc về vấn đề an ninh đối với Huawei (Hoa Vi), nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất Trung Quốc. Trong khi đó, hầu hết các nhà mạng đang hoạt động tại VN đều có sử dụng thiết bị của Huawei.

Theo nguồn tin của Thanh Niên, Huawei đã ký hợp đồng với hai đối tác ở VN về việc triển khai mạng HSPA+. Theo đó, Huawei sẽ đặt hàng ngàn trạm gốc ở Hà Nội, Đà Nẵng và một phần của khu vực TP.HCM. Dựa trên trạm thu phát gốc BTS tiên tiến thế hệ thứ 4 của công ty và khả năng HSPA+/UMTS, mạng 3G này sẽ cho phép việc cung cấp tốc độ băng rộng di động rất nhanh, lên đến 21 Mb/s cho khách hàng. Theo như tuyên bố của Huawei, mạng  HSPA+ mới ở VN này sẽ là một trong những mạng 3G nhanh nhất thế giới…

Trả lời câu hỏi liệu có nguy cơ về an ninh thông tin từ những thiết bị mạng do Huawei cung cấp hay không, đại diện Công ty MobiFone cho biết thời gian qua cũng nhận được những thông tin nêu trên qua báo chí. Nhưng đó là những thông tin không xuất phát từ các đơn vị có chức năng kiểm định chất lượng mạng di động nên công ty cũng khó đánh giá được mức độ chính xác đến đâu. Tuy nhiên, MobiFone khẳng định qua thời gian sử dụng 5-7 năm nay thì các thiết bị vẫn đảm bảo được chất lượng. Hơn nữa, công ty và đối tác Huawei đã có quy trình và phương án phối hợp chặt chẽ để đảm bảo tuyệt đối vấn đề an toàn thông tin cho người dùng.

Không chỉ nổi tiếng với việc cung cấp các thiết bị mạng, Huawei hiện cũng nổi lên với việc cung cấp hàng loạt thiết bị đầu cuối cho người dùng như điện thoại di động Smartphone, bao gồm sử dụng nhiều mạng khác nhau như UMTS, GSM, CDMA và TD-SCDMA; máy tính bảng; thiết bị di động như WiMax, USB 3G… Đại diện nhà mạng Vinaphone cho rằng những sản phẩm đầu cuối như ĐTDĐ, USB 3G hay máy tính bảng là những thiết bị có cấu trúc đơn giản, rất dễ kiểm tra và hầu như không có khả năng gây nguy cơ mất an toàn thông tin hay có hại cho người dùng.

Trong khi đó ông Nguyễn Minh Đức, Giám đốc bộ phận an ninh mạng Công ty an ninh mạng BKAV, cho rằng các nhà cung cấp hoàn toàn có khả năng đưa vào thiết bị mạng những tính năng ẩn để điều khiển hoạt động của mạng thông tin. Vì vậy đối với hạ tầng mạng quan trọng của một quốc gia (ví dụ như trong quân đội) thì nhiều nơi chi tiền mạnh tay để có thể tự thiết lập mạng riêng của mình. Trong trường hợp sử dụng thiết bị mạng mua ngoài thì phải có sự kiểm tra đánh giá chất lượng từ các cơ quan có thẩm quyền. Thậm chí nhà mạng phải giám sát và kiểm tra mã nguồn, hệ điều hành để đảm bảo tuyệt đối vấn đề an toàn thông tin cho người sử dụng.

Một chuyên gia viễn thông tại TP.HCM cho rằng vấn đề an ninh thông tin mạng cần phải được xem xét nghiêm túc dưới sự chỉ đạo của Chính phủ. Bởi bản thân mỗi nhà mạng chỉ lo hoạt động kinh doanh và đôi khi giá cả lại quyết định việc chọn nhà cung cấp mà không nghĩ đến các vấn đề xa hơn.

Đài Loan cấm, Mỹ, Ấn Độ ngăn chặn

Tờ Taipei Times cuối tháng trước đưa tin Cơ quan quản lý viễn thông Đài Loan (NCC) áp đặt lệnh cấm các nhà cung cấp mạng viễn thông đảo này sử dụng các thiết bị mạng cốt lõi do Tập đoàn viễn thông Trung Quốc Huawei cung cấp do có nhiều lo ngại về an ninh thông tin. Nhiều công ty viễn thông nổi tiếng của Đài Loan như Asia Pacific Telecom (APT), Vibo, Taiwan Mobile và Far EasTone được cho là đã mua các thiết bị từ Huawei. Theo Taipei Times, một số thiết bị viễn thông của Huawei đang bị hải quan Đài Loan tạm giữ để điều tra. Một phát ngôn viên của NCC khẳng định bất cứ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nào của Đài Loan muốn sử dụng các thiết bị mạng cốt lõi nhập từ các nhà cung cấp Trung Quốc đều phải được sự chấp thuận của cơ quan này và Cục Điều tra Đài Loan.

Không chỉ tại Đài Loan, Huawei cũng bị kiểm soát chặt chẽ tại Mỹ. Hồi tháng 2, tập đoàn này phải ngưng thỏa thuận trị giá 2 triệu USD mua lại Công ty công nghệ máy chủ 3Leaf. Ủy ban theo dõi đầu tư nước ngoài của Mỹ đã ngăn cản thỏa thuận trên sau khi đánh giá về những rủi ro an ninh có thể xảy ra. Tháng 8 năm ngoái, 8 nghị sĩ thuộc Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ cũng gửi thư cho chính phủ phản đối việc Huawei nhận hợp đồng cung cấp thiết bị mạng trị giá hàng tỉ USD cho nhà mạng lớn thứ ba của Mỹ là Sprint Nextel.

Theo tờ The Wall Street Journal, Sprint Nextel đã phải loại trừ cả Huawei lẫn một nhà cung cấp thiết bị viễn thông khác của Trung Quốc là ZTE khỏi dự án nâng cấp trị giá khoảng 8,5 tỉ USD. Một số quan chức quân sự Mỹ cho rằng quân đội Trung Quốc có thể sử dụng các thiết bị của Huawei hoặc ZTE để phá vỡ và đánh chặn thông tin liên lạc của nước này. The Wall Street Journal dẫn một tuyên bố của Lầu Năm Góc nêu rõ: “Bộ Quốc phòng rất quan ngại về năng lực mạng đang trỗi dậy của Trung Quốc hoặc bất cứ mối đe dọa tiềm tàng nào”.

Ấn Độ cũng có những quan ngại tương tự đối với Huawei. Theo tờ Financial Times, từ năm ngoái, chính quyềnNew Delhiđã ngăn chặn việc mua sắm các thiết bị viễn thông từ Huawei cũng như các nhà cung cấp Trung Quốc khác vì lý do an ninh quốc gia. Cũng trong năm ngoái, Úc chính thức bày tỏ lo ngại về rủi ro an ninh đối với các thiết bị viễn thông do Huawei cung cấp. Trang tin TelecomsEurope dẫn lời các chuyên gia an ninh cảnh báo việc triển khai các thiết bị viễn thông của Trung Quốc có thể dẫn đến nguy cơ mạng lưới thông tin quốc gia bị xâm nhập.

Ngô Minh Trí – Thủy Lưu / Thanh Niên 22.07.2011

Phát triển quá “thần kỳ”

Một trong những lý do khiến nhiều nước lo ngại Huawei chính là việc tập đoàn này đã phát triển quá “thần kỳ” trong một thời gian ngắn. Được thành lập vào năm 1987 bởi ông Nhậm Kiến Phi, một cựu sĩ quan Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc với số vốn ban đầu tương đương 4.700 USD (theo tỷ giá thời điểm đó), Huawei nhanh chóng vươn lên trở thành nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất nước và lớn thứ hai thế giới vào năm 2009. Tập đoàn này đang đề ra mục tiêu đạt doanh thu 100 tỉ USD trong 10 năm tới.

Theo Reuters, Huawei cùng ZTE đã được nuôi dưỡng từ chính sách quốc gia của Trung Quốc để giành các hợp đồng xây dựng mạng lưới viễn thông của nước này. Từ cơ sở vững chắc trong nước, Huawei lấn sang thị trường các nước đang phát triển ở châu Phi, Mỹ La-tinh và đích cuối cùng là thị trường các nước phát triển. Tập đoàn này được chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ mạnh mẽ dưới hình thức các khoản vay ưu đãi trị giá nhiều tỉ USD. Reuters dẫn lời ông Fred Hochberg, Chủ tịch Eximbank Mỹ, cho hay Ngân hàng Phát triển Trung Quốc đã cung cấp cho Huawei một khoản tín dụng lên đến 30 tỉ USD. Nhiều chuyên gia khác cũng cho rằng có nhiều cơ sở để thấy Chính phủ Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với Huawei trong một chiến lược dài hạn.

N.M.T

Advertisements

Ý: NGUY CƠ MỚI CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Bất đồng giữa Thủ tướng Berlusconi (phải) với Bộ trưởng Tài chính Giulio Tremonti đang rất căng thẳng là một mối lo của kinh tế Ý (ảnh: Internet)

Trong khi châu Âu vẫn đang lẩn quẫn trong cơn khủng hoảng nợ công tác động tiêu cực đến thị trường tài chính thế giới, thì cơn khủng hoảng nợ công lại đang có dấu hiệu lan sang Ý, nền kinh tế lớn thứ tư châu Âu.

Chứng khoán Mỹ tuột dốc vì châu Âu

Theo New York Times, cổ phiếu tại Hoa Kỳ giảm xuống, tiếp bước cùng thị trường toàn cầu, vì lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ của khu vực Eurozone. Tại thị trường Hoa Kỳ cũng như châu Âu và châu Á, nhà đầu tư bị tác động dồn dập bởi những dữ liệu kinh tế yếu kém và các nhà quan chức châu Âu phải tiếp tục gặp nhau tại Brussels, Bỉ, để thảo luận về những khó khăn tài chính của khu vực Eurozone.

Hôm thứ hai 11.07.2011, chỉ số Dow Jones đã giảm đến 151,44 điểm, tương đương 1,2%, xuống còn 12.505,75 điểm. Chỉ số Standard & Poor’s 500 giảm 24,31 điểm, tương đương 1,81%, xuống còn 1.319,49 điểm. Tương tự như thế, chỉ số Nasdaq còn 2.802,62 điểm, tức giảm 57,19 điểm – tương đương 2%.

Cổ phiểu các tập đoàn lớn của Mỹ đã giảm giá đáng kể, đặc biệt là các tập đoàn trong lĩnh vực tài chính. Citigroup giảm 5,3% xuống còn 39,79 đô la Mỹ, JPMorgan Chase giảm 3,2% xuống còn 39,43 đô la Mỹ, Banks of America giảm 3,27% xuống còn 10,35 đô la Mỹ. Một số cổ phiếu thuộc các lĩnh vực khác cũng lao dốc theo: Google mất 0,89% còn 527,28 đô la Mỹ, Alcoa giảm 2,87% còn 15,91 đô la, Caterpillar giảm 2,04% còn 108,06 đô la, Boeing giảm 2,29% còn 73,35 đô la… Tính rộng hơn trên thị trường toàn Hoa Kỳ, cổ phiếu các công ty tài chính hầu hết giảm 3%, trong khi các công ty năng lượng và vật liệu giảm 2%.

Tất nhiên, thị trường chứng khoán châu Âu cũng giảm điểm không kém. Thị trường chứng khoán Milan (Ý) giảm 3,8%, chỉ số FTSE tại Luân Đôn giảm 1,03%, chỉ số CAC của Pháp giảm 2,71%, chỉ số DAX tại sàn Frankfurt giảm 2,33%. Tất cả tạo nên một bức tranh u ám trên thị trường tài chính cả thế giới.

“Con bệnh” Ý: nguy cơ của kinh tế toàn cầu

Kể từ khi cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu nổ ra, mặc dù Ý là một quốc gia có tỷ lệ nợ công khá cao nhưng vẫn được xem là nền kinh tế an toàn hơn rất nhiều so với những “hàng xóm” nợ nần chồng chất cạnh mình.

Từng có nhiều lý do để người ta tin rằng Ý rất khó để đổ vỡ. Theo The Economist, nếu Tây Ban Nha được xem là “quá lớn để đổ vỡ” thì cuộc khủng hoảng nợ toàn diện nếu xảy ra với Ý sẽ là một cơn đại hồng thủy. Moises Naim, chuyên gia cao cấp của chương trình kinh tế quốc tế thuộc Carnegie Endowment ở Washington, nói rằng: “Ý quá lớn để đổ vỡ. Nếu Ý thực sự “dính bệnh” vì lây lan bởi những quản lý chính trị yếu kém, nó không chỉ đe dọa khu vực Eurozone mà còn đe dọa toàn cầu”. Thật vậy, Ý có ảnh hưởng khá lớn đối với thị trường tài chính toàn cầu. Quốc gia hình chiếc ủng này là nền kinh tế lớn thứ tám trên thế giới, thứ tư châu Âu và là thứ ba trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu. Ý cũng là thị trường trái phiếu lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Ngoài ra, kinh tế Ý cũng có nhiều điểm vững vàng hơn nhiều nền kinh tế khác ở châu Âu để có được niềm tin cho giới đầu tư. Các ngân hàng Ý nhìn chung khá vững mạnh và không sa lầy trong việc đầu cơ vào bong bóng bất động sản, thâm hụt ngân sách quốc gia cũng chỉ 4,6% GDP.

Thế nhưng, tình trạng khủng hoảng nợ công nay không còn giới hạn trong những nền kinh tế nhỏ như Hy Lạp, vốn đang bên bờ phá sản, mà đang dần lan sang những nền kinh tế lớn nhất của Eurozone. Thời thế đã thay đổi, các nhà đầu tư nay chuyển mối quan ngại sang các nền kinh tế có nợ công cao, tăng trưởng chậm và ẩn chứa những bất ổn chính trị.

Và Ý chính là một nền kinh tế “thỏa mãn” tất cả các điều kiện trên. Tỷ lệ nợ công của Ý là 120% GDP, tức cao thứ nhì khối Eurozone – chỉ sau Hy Lạp, với số nợ lên đến 1900 tỷ.  Lãi suất tăng đã làm cho nền kinh tế Ý phát triển chậm chạp, không đủ bù đáp cho khoảng nợ công khổng lồ. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng nền kinh tế Ý sẽ tăng trưởng rất thấp, chỉ khoảng 1,3% vào năm 2012. Hơn thế nữa, nội bộ chính trị nước này đang bất ổn khi bất đồng giữa thủ tướng Berlusconi với bộ trưởng tài chính và cũng là đối thủ chính trị lâu năm của ông Berlusconi là Giulio Tremonti đang rất căng thẳng. Ông Giulio Tremonti còn đang rắc rối với cáo buộc liên quan đến tham nhũng, rắc rối mà được Massimo Giannini, biên tập viên về kinh doanh của La Repubblica, nhận định là: “Tôi nghĩ ông ấy không thể vượt qua scandal lần này”. Nếu sinh mệnh chính trị của ông Giulio Tremonti kết thúc thì nền kinh tế Ý sẽ gặp khá nhiều rủi ro khi ông được xem là người bảo hộ duy nhất cho chính sách tài chính thận  trọng của Ý.

Với sự “thỏa mãn điều kiện” như thé, Ý đang tiếp bước Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong chuỗi domino nợ nần.  Tháng trước, Standard & Poor’s đã hạ thấp xếp hạng tín nhiệm tín dụng của Ý. Nay thì lãi suất trái phiếu thời hạn 10 năm của Ý đã tăng lên mức kỷ lục là 5,67%, biên độ chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu thời hạn 10 năm của Ý với Đức đã lên  thành 2,36 điểm phần trăm, cao nhất kể từ khi ra đời đồng Euro đến nay. Daniel Gros, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách châu Âu tại Brussels, nhận xét: “Ý đang ở trong vùng nguy hiểm, đó là điều quá rõ ràng hiện nay

Tuy vậy, nếu Ý thực sự tiếp bước Hy Lạp thì đây có thể là tai họa cho thế giới. Eurozone đã tỏ ra đối phó khá chật vật với cuộc khủng hoảng của Hy Lạp, một nền kinh tế chỉ chiếm 2% trong khối, thì với nền kinh tế lớn thứ ba của khối là một thảm họa thực sự. Ngoài ra, các ngân hàng châu Âu đang nắm giữ đến 998,7 tỷ Euro nợ của Ý, gấp sáu lần số nợ các ngân hàng này đang nắm giữ đối với Hy Lạp. Các ngân hàng Mỹ cũng nắm giữ đến 269 tỷ Euro nợ của Ý. Cho nên, Ý đổ nợ thực sự là một cơn “đại hồng thủy” thật sự, có thể càn quét kinh tế toàn cầu.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 15.07.2011

TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT VƯỢT DỰ BÁO

Thị trường xe hơi Trung Quốc giảm sút đáng kể trong tháng 6 năm nay. Ảnh: Reuters

Cho dù ngân hàng Trung ương liên tục nâng lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lạm phát trong tháng 6 vẫn tăng ở mức kỷ lục và vượt xa con số dự báo.

Nguy cơ từ lạm phát kỷ lục

Theo số liệu mới công bố, lạm phát trong tháng 6 của Trung Quốc lên đến 6,4%, mức cao nhất trong 36 tháng qua. Tăng 14% so với cùng kỳ năm trước, giá thực phẩm được cho là nguyên nhân chính khiến cho lạm phát tăng mạnh. Nhiều mặt hàng đã tăng giá đột biến, ví dụ như thịt heo đã tăng giá đến 57%. Giá ngũ cốc cũng tăng nhanh do mất mùa vì thiên tai.

Trong tháng 5, mặc dù mức lạm phát cũng đã tăng cao với con số 5,5% nhưng vẫn nằm trong mức dự báo. Song lạm phát của tháng 6 lại tăng cao hơn so với dự báo 6,2%, chỉ dấu cho thấy các biện pháp thắt chặt tiền tệ liên tục của Trung Quốc đã không đủ sức kiềm chế lạm phát. Ngày 6.7 vừa qua, ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã nâng lãi suất cơ bản thêm 25 điểm cơ bản, lãi suất vay tăng từ mức 6,31% lên thành 6,56%, lãi suất tiền gởi tăng từ 3,25% lên thành 3,5%. Nếu như từ đầu năm đến nay, Trung Quốc tăng lãi suất ba lần thì việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được thực hiện đến sáu lần.

Theo Bloomberg, mức lạm phát tăng cao trong tháng 6 dẫn tới nguy cơ Trung Quốc sẽ thất bại trong việc “hạ cánh mềm” nền kinh tế quá nóng, cũng như tính ổn định lâu bền của nền kinh tế nước này.

Thị trường xe hơi lao dốc

Trong một diễn biến khác, theo một kết quả nghiên cứu, được Asia Sentinel dẫn trích, thị trường xe hơi Trung Quốc đang trải qua tình trạng lao dốc đáng kể. Số lượng xe bán ra tại các phòng trưng bày của các đại lý, con số được cho thể hiện chính xác nhất tình hình thị trường, cho thấy lượng xe bán ra tại Bắc Kinh trong tháng 6 đã giảm đến 50% so với cùng kỳ năm trước và giảm 5% so với tháng trước.

Theo thông lệ hàng năm, doanh số xe sedan, chủ yếu bán cho cá nhân hay hộ gia đình, trong tháng 6 sẽ giảm 3% so với tháng trước, nhưng con số này trong tháng 6 năm nay trên thị trường cả nước là 12%. Trên cả nước, chu kỳ tồn kho xe hơi cũng tăng từ khoảng 45 – 50 ngày trong tháng 5 lên thành 48 – 52 ngày trong tháng 6, vì doanh số chậm đi. Mức giảm nặng nề nhất thuộc về khu vực miền Trung và Bắc Trung Quốc với doanh số giảm 10% trong tháng 6, sau khi giảm 5% vào tháng 5.

Ngô Minh Trí (tổng hợp)Sài Gòn Tiếp Thị 11.07.2011

CÁI KHÓ CỦA TÂN TỔNG GIÁM ĐỐC IMF

Tân tổng giám đốc của IMF từ tháng 07.2011 (ảnh: Internet)

Con đường lên vị trí Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) không quá khó khăn với bà Christine Lagarde, nhưng những thách thức mà bà phải đối mặt khi lèo lái IMF thì khó khăn hơn nhiều.

Mặc dù cuộc tuyển chọn tổng giám đốc mới của IMF, thay thế ông Dominique Strauss Kahn, được nói là: “cởi mở, dựa trên phẩm chất và sự minh bạch”, nhưng chẳng có nhiều lý do để nghi ngờ việc bà Christine Lagarde, Bộ trưởng Tài chính Pháp và từng lãnh đạo một công ty luật hàng đầu thế giới, ngồi vào chức vụ trên. Liên minh châu Âu, chiếm một phần ba phiếu bầu trong hội đồng quản trị của IMF, đã đoàn kết hậu thuẫn cho bà ngay khi bắt đầu cuộc cạnh tranh.

Các thị trường mới nổi cũng đã mong muốn có một tổng giám đốc IMF không phải là người châu Âu nhưng đã không tập hợp được xung quanh đối thủ duy nhất của bà là ông Agustin Carstens, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mexico. Ngay cả Trung Quốc cũng lên tiếng hậu thuẫn cho bà Chritine Lagarde. Cho nên, chỉ cần Hoa Kỳ ủng hộ nữa là đủ để bà Christine Lagarde trở thành tổng giám đốc thứ 11 và là nữ tổng giám đốc đầu tiên của IMF. Tiền lệ tổng giám đốc IMF là người châu Âu lại tiếp tục được duy trì.

Thế nhưng, mọi thứ chỉ mới là bắt đầu và nhiều thử thách đang chờ đón bà Christine Lagarde phía trước.

Không giống như những người tiền nhiệm của mình, bà Lagarde tiếp nhận chức vụ khi mà chính châu Âu đang là “khách hàng” lớn nhất của IMF. Việc thiết lập và duy trì tính độc lập của bà đối với những bộ trưởng tài chính của các nước châu Âu khác, vốn là những người từng kề vai sát cánh với bà và sự hỗ trợ của họ đóng vai trò quan trọng để bà có được vị trí công việc trên, sẽ trở thành nhiệm vụ khó khăn hơn so với những người tiền nhiệm của bà.

Thử thách trên sẽ là một tiêu chuẩn để xác định xem bà Lagarde có thành công hay không trong việc hoàn thành tầm nhìn mà bà vạch ra trong phát biểu chính thức đầu tiên khi bà nhậm chức. Bà Lagarde đã đưa ra bốn tuyên bố quan trọng đó là: “sự liên quan, khả năng đáp ứng, hiệu quả và hợp pháp”.

Trong hai tuyên bố đầu tiên là sự liên quan và khả năng đáp ứng thì không có gì khó khăn. Hiện tại, IMF đã thể hiện được vai trò trung tâm trong các cuộc khủng hoảng tài chính chứ không còn lờ mờ như khi cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra. Nói một cách khác thì IMF đã thể hiện được “Sự liên quan” của mình đối với tình hình chung của kinh tế thế giới. Ngoài ra, các khoản đóng góp của các thành viên đã lớn hơn gấp ba lần so với khả năng cho vay của quỹ này trước khủng hoảng, vượt qua con số 750 tỉ đô la Mỹ. IMF đã đáp ứng nhanh chóng cho 22 quốc gia kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra và các điều kiện để cung cấp tài chính cũng trở nên linh hoạt hơn.

Với hai tuyên bố còn lại thì không hề đơn giản. Mục tiêu liên kết sự hiệu quả với tính hợp pháp sẽ phụ thuộc vào mức độ mà IMF, dưới thời bà Lagarde, có thể và sẵn lòng hành động độc lập với các cổ đông lớn nhất của IMF. Để là một định chế tài chính hiệu quả, IMF cần nói rõ với các chính phủ thành viên về những sự thật khó khăn trong chính sách kinh tế. Nhưng để các nước thành viên thấu hiểu thì họ phải tin vào sự khách quan của IMF.

Đây là thách thức đáng kể vì các thành viên ít tiền hơn trong IMF vẫn luôn cho rằng IMF bị chi phối bởi quan điểm của các thành viên nhiều tiền hơn. Để thay đổi được khúc mắc đó, Lagarde phải thể hiện được sự gương mẫu. Khủng hoảng nợ của khu vực Eurozone là thách thức lớn nhất để bà Lagarde vượt qua được rào cản trên. Nhiều nền kinh tế mới nổi khó chịu khi IMF đã cho các thành viên khối Eurozone vay quá nhiều tiền nhưng lại ít hào phóng đối với các thành viên không thuộc khối Eurozone. Điển hình như IMF đã cho Hy Lạp vay số tiền nhiều gấp 24 lần đóng góp của nước này vào IMF, tỷ lệ này đối vớiUkrainehayPakistanchỉ là bảy lần. Số tiền 77 tỉ Euro (tương đương 111 tỉ đô la Mỹ) mà IMF dành cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha lớn gấp đôi tổng số tiền mà IMF dành cho 19 chương trình của các quốc gia thành viên không thuộc khối Eurozone. Các chỉ trích cho rằng điều đó chẳng khác gì một sự tập trung bất thường nguy cơ vào một khu vực riêng lẻ.

Vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nếu Hy Lạp không đáp ứng được các thỏa thuận với IMF và châu Âu không đồng thuận với con đường phía trước. Khi đó, bà Lagarde sẽ phải đẩy mạnh hơn quan điểm của IMF trong các cuộc đàm phán với các thành viên của khối EU, vốn là những đồng nhiệm cũ của bà, có thể là cả sự tranh luận về việc Hy Lạp nên tái cấu trúc nợ hơn là thắt lưng buộc bụng. Bà Lagarde có thể sẽ phải đối đầu với những người từng ủng hộ mình tại châu Âu.

Một thử thách mà tân tổng giám đốc của IMF sẽ phải giải quyết đó là các nền kinh tế mới nổi muốn một tỷ lệ biểu quyết tương xứng với đóng góp của họ trong quỹ. Các quốc gia nhưTrung Quốc,Brazil, Ấn Độ và Nga có ít phiều bầu hơn so với sức mạnh kinh tế của họ. Để giải quyết được vấn đề này, bà Lagarde phải thuyết phục được các quốc gia như Bỉ và Hà Lan nhượng lại một số phiều bầu, vốn dĩ nhiều hơn sức mạnh kinh tế của họ, cho các nền kinh tế mới nổi. Đây là một điều rất khó đạt được.

Ngô Minh Trí (theo The Economist) – đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn 08.07.2011

CÁC NGÂN HÀNG ÚC: AN TOÀN NHƯNG YẾU THẾ

Ngân hàng Quốc Gia Úc (National Australia Bank) cũng đang gặp nhiều thách thức (ảnh: internet)

Trong lúc thị trường tài chính châu Âu đang lao đao trong khủng hoảng nợ công thì các ngân hàng Úc được xem như một nơi trú ẩn an toàn hơn, nhưng các ngân hàng Úc lại đang tỏ ra lép vế trước các đối thủ nước ngoài ngay tại thị trường nội địa.

Chốn an toàn giữa cơn nguy biến

Theo Bloomberg, các nhà đầu tư trái phiếu, đang tìm một nơi trú ẩn an toàn sau những gì diễn ra tại châu Âu, nhìn nhận các ngân hàng Úc an toàn hơn các đồng nghiệp tại châu Âu, bất chấp bốn ngân hàng hàng đầu của Úc đã bị Moody’s hạ mức tín nhiệm tín dụng vào tháng trước.

Trong khi cơn khủng hoảng nợ công của Hy Lạp nói riêng và khối Eurozone nói chung tạo nên cơn địa chấn làm ảnh hưởng toàn bộ hệ thống ngân hàng châu Âu, thì các ngân hàng Úc tỏ ra an toàn hơn, vì họ không phải là những chủ nợ đáng kể của Hy Lạp. Đó là lợi thế của các ngân hàng Úc khi so sánh với các ngân hàng của châu Âu, điển hình như hệ thống ngân hàng Pháp đầu tư đến 56,7 tỷ đô la Mỹ tại Hy Lạp, theo dữ liệu từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cuối năm 2010. Cũng theo báo cáo của BIS, trái phiếu chính phủ Hy Lạp được giữ bởi ngân hàng các nước có giá trị lên đến 54,2 tỷ USD, 96% trong số đó là các ngân hàng châu Âu.

Mark Mitchell, đứng đầu bộ phận tín dụng của quỹ đầu tư Kapstream Capital đang quản lý khoảng 3,9 tỷ đô la Úc (tương đương 4,1 tỷ đô la Mỹ), đã nhận xét rằng: “ngân hàng Úc đã tiếp xúc rất hạn chế với nợ công của Hy Lạp và các quốc gia ngoại vi khác của châu Âu, điều đó giải thích tại sao các ngân hàng Úc tốt hơn về sau. Các nhà đầu tư đang quan tâm nhiều về tình cảnh của Hy Lạp cũng như những ảnh hưởng tiềm tàng”.

Hơn thế nữa, 70% doanh thu của các ngân hàng Úc đến ngay từ chính nước Úc, nền kinh tế có mức tăng trưởng được dự báo sẽ vượt qua Hoa Kỳ và châu Âu trong năm tới. Theo ước tính của Blooberg, nếu như kinh tế của khu vực sử dụng đồng Euro được dự báo tăng trưởng 1,9% trong năm nay và 1,65% trong năm sau, hay Hoa Kỳ là 2,6% cho năm 2011 và 3% trong năm 2012, thì Úc được dự báo sẽ tăng trưởng 2,8% trong năm nay và 4% vào năm sau. Tức triển vọng của nền kinh tế Úc đang tỏ ra rất tươi sáng so với nhiều nền kinh tế lớn khác. Đô la Úc cũng đang mạnh lên rất nhiều khi tăng giá đến 20% so với đô la Mỹ trong 12 tháng qua.

Ngân hàng nội địa gặp khó

Những triển vọng tươi sáng của hệ thống tài chính Úc cùng với lợi nhuận biên trong lĩnh vực cho vay cao hơn đáng kể so với các khu vực khác của châu Á, khiến cho các ngân hàng nước ngoài tìm cách chia phần trên thị trường Úc. Hơn thế, áp lực đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng của Úc cũng tạo nên sức hấp dẫn cho các ngân hàng. Một số thông tin cho rằng Úc cần đến 400 tỷ đô la Mỹ để phát triển cơ sở hạ tầng trong mười năm tới.

Lĩnh vực ngân hàng Úc đang trở nên cạnh tranh hơn bởi cuộc đua của các ngân hàng châu Á và châu Âu. Khoảng 10 ngân hàng lớn của nước ngoài đang chờ giấy phép hoạt động tại Úc, trong đó gồm có Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, ngân hàng Giao thông Trung Quốc, Ngân hàng Bilbao Vizcaya Argentaria của Tây Ban Nha, ngân hàng Baroda và ngân hàng Liên minh của Ấn Độ…

Một số quy định về thanh khoản tạo sức ép khiến cho các ngân hàng nội địa phải cắt giảm cho vay, các quy định này lại không áp dụng cho các ngân hàng nước ngoài trong nhiều trường hợp. Từ đó, một tác động tương hỗ ngược lại khiến cho các ngân hàng nội địa càng chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ hơn từ các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là ưu thế về vốn của các ngân hàng nước ngoài.

Tình hình thiếu nguồn quỹ càng phức tạp hơn đối với các ngân hàng nội địa của Úc, vốn có số tiền gởi chỉ chiếm 60% nhu cầu vốn hàng năm, các ngân hàng Úc cho vay lẫn nhau lên đến 110 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.

Bên cạnh đó, hoạt động của các ngân hàng nước ngoài càng thuận lợi hơn nhờ vào sắc thuế mới. Chính phủ Úc sẽ thực hiện cắt giảm một nửa thuế lợi tức vào năm 2015 đối với các ngân hàng phát triển nguồn quỹ từ nước ngoài.  Việc giảm thuế là một lợi thế lớn cho các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, các công ty trên khắp thế giới, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, đang nối đuôi nhau để mua than đá, quặng, và các khoáng sản của Úc.

Cho nên, khi có được giấy phép hoạt động chi nhánh tại Úc, các ngân hàng nước ngoài có thể tăng cho vay đối với các công ty nước ngoài đang phát triển tại Úc. Các ngân hàng nước ngoài đang xếp hàng để cho vay thương mại, thực hiện các phi vụ mua lại xuyên biên giới, cho vay để xây dựng cơ sở hạ tầng với các doanh nghiệp đồng hương của họ. Ví dụ như tập đoàn phát triển cơ sở hạ tầng và năng lượng của Ấn Độ là GVK đang phải đàm phán với ngân hàng Standard & Chartered và ngân hàng lớn thứ hai của Ấn Độ là ICICI nhằm có được khoản tài trợ trị giá 1,3 tỷ USD để mua lại hai mỏ than tại Úc.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 30.06.2011

THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC CÔNG DU CHÂU ÂU: THAY ĐỔI MỤC TIÊU ĐẦU TƯ

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (bìa trái) gặp gỡ nội các chính phủ Đức, ngày 28.6.2011, nhắm tới đẩy mạnh thương mại giữa hai quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới sẽ đạt ít nhất 200 tỉ euro trong vòng 5 năm tới. Ảnh: Reuters.

Thông qua chuyến công du của thủ tướng Ôn Gia Bảo, Trung Quốc một lần nữa thể hiện rõ mục tiêu gắn kết chặt chẽ hơn với cựu lục địa bằng lợi thế dự trữ ngoại tệ khổng lồ của mình.

Chuyến thăm ba nướcHungary, Anh và Đức của thủ tướng Ôn Gia Bảo kết thúc trong tiếng vỗ tay mừng các hợp đồng đầu tư và thỏa thuận thương mại được ký kết trị giá hàng tỉ USD.

Những khoản đầu tư hấp dẫn

Theo Trung Hoa nhật báo, thủ tướng Ôn Gia Bảo trở thành thủ tướng Trung Quốc đầu tiên viếng thămHungarytrong 24 năm qua. Hiện tại,Hungaryđang là đối tác quan trọng của Trung Quốc tại khu vực trung và đông Âu. Năm ngoái, kim ngạch thương mại song phương giữa hai quốc gia đã đạt 8,72 tỷ USD, tăng 28,1% so với năm 2009.

Reuters cho biết Trung Quốc đã đem đến choHungarycác khoảng đầu tư hấp dẫn trị giá nhiều tỷ USD trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng như: công nghệ, hóa chất, hàng không, đường sắt… Nổi bật trong số đó có dự án trung tâm cung ứng châu Âu của tập đoàn viễn thông Huawei, Trung Quốc, đặt tại Hungary, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trị giá 1,2 tỷ USD trong năm nay của Huawei và có thể tạo ra khoảng 3.000 việc làm. Ngân hàng Trung Quốc cũng đã ký thỏa thuận tài trợ 1,1 tỷ Euro (tương đương 1,56 tỷ USD) cho công ty hóa chất nằm ở miền nam Hungary là BorsodChem, vốn đã nằm dưới quyền kiểm soát của tập đoàn hóa chất Wanhua của Trung Quốc từ đầu năm nay.

Tương tự như vớiHungary, thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đã đem đến cho Anh và Đức một số khoản đầu tư cũng như các thỏa thuận thương mại song phương. Trung Quốc và Anh đã công bố thỏa thuận trị giá khoảng 1,4 tỷ bảng Anh (tương đương 2,3 tỷ USD) và đặt ra mục tiêu thương mại song phương Trung – Anh sẽ tăng gấp đôi hiện tại, đạt 100 tỷ USD, vào năm 2015. Theo các nguồn tin, thủ tướng Ôn Gia Bảo có thể công bố đơn đặt hàng 62 chiếc Airbus A320 tại Berlin, Đức, điểm đến cuối cùng của chuyến công du. Việc công bố phụ thuộc vào khả năng giải bất đồng về kế hoạch giới hạn khí thải của EU.

Tranh thủ ảnh hưởng châu Âu

Không chỉ để làm ấm thêm quan hệ hai nước, chuyến thăm lần này của thủ tướng Ôn Gia Bảo còn có ý nghĩa với cả khu vực đông và trung Âu cũng như cả châu Âu. Tại Hungry, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã tham dự Diễn đàn kinh tế và thương mại các quốc gia Đông và Trung Âu diễn ra vào ngày 25.6.2011 tại Budapest, đồng thời Hungary hiện là chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu. Quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông và Trung Âu đã tăng nhanh từ con số kim ngạch thương mại song phương chỉ 3 tỷ USD năm 2000 lên 40 tỷ USD năm 2010, tức tăng trưởng trung bình 32% mỗi năm. Liên minh châu Âu hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc với kim ngạch thương mại song phương đạt 400 tỷ Euro (tương đương 573 tỷ USD)

Trong chuyến công du, thủ tướng Ôn Gia Bảo một lần nữa nhấn mạnh thông điệp rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư lâu dài cho các khoản nợ công của khu vực sử dụng đồng Euro. Tháng 10 năm ngoái, thủ tướng Ôn Gia Bảo lần đầu tiên đưa ra thông điệp trên. Mục tiêu đẩy mạnh quan hệ với EU của Trung Quốc được bài báo trên Wall Street Journal bình luận rằng đó là chỉ dấu cho sự thay đổi đầu tư của Trung Quốc từ Hoa Kỳ sang châu Âu. Thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, Trung Quốc muốn gia tăng ảnh hưởng trong quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), định chế có truyền thống do người châu Âu nắm quyền lãnh đạo. Đầu tháng này, tổng giám đốc IMF, thay thế ông Dominique Strauss Kahn, là bà Christine Lagarde đã khẳng định ủng hộ tăng quyền biểu quyết của Trung Quốc trong IMF từ mức 3,65% lên thành 6,4%.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Sài Gòn Tiếp Thị Online 29.06.2011

HÀNG TRUNG QUỐC GIÁ RẺ: KẾT THÚC Ở MAY MẶC, MỞ RA NƠI MÁY TÍNH

Triển lãm Computex 2011 tràn ngập hàng điện tử Trung Quốc giá rẻ (ảnh: ban tổ chức Computex)

Kết thúc một giai đoạn

Trên báo The Economist, ông Bruce Rockowitz, giám đốc điều hành của Li & Fung, đã nhận xét rằng “Kết thúc thời hàng hóa giá rẻ”. Li & Fung là nhà cung cấp quần áo và các sản phẩm gia dụng phổ biến sản xuất theo đơn hàng từ châu Á cho các hệ thống siêu thị ở phương Tây. Trong lĩnh vực công nghệ thấp mà Li & Fung nổi tiếng, công ty này mua khoảng 4% giá trị xuất khẩu của Trung Quốc để xuất sang Mỹ cùng với một mức độ đáng kể sang châu Âu. Li & Fung hoạt động tại một số nước Đông Á, thường xuyên tìm kiếm các nhà cung cấp hàng giá rẻ và đáng tin cậy, từ túi xách đến những chiếc ghế cao dành cho quầy bar. Cho nên, khi Bruce Rockowitz nói rằng kỷ nguyên hàng hóa giá rẻ của châu Á sắp kết thúc thì ý kiến của ông được nhiều người tin.

Ông Bruce Rockowitz cho rằng nền sản xuất châu Á đã trải qua một số giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 30 năm. Khi Trung Quốc đang đóng cửa dưới thời Mao Trạch Đông, các công ty Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc đã trở nên thành thục trong lĩnh vực sản xuất. Khi Trung Quốc mở cửa vào cuối những năm 1970, các nhà điều hành doanh nghiệp đầy kinh nghiệm của châu Á đã tập trung về miềnNamTrung Quốc. Nhờ được tiếp cận dễ dàng với đất đai và lao động, cùng với cảng biển và trung tâm hậu cần hiệu quả gần Hongkong, họ bắt đầu sản xuất ra những hàng hóa rẻ hơn bao giờ hết và bán chúng ra khắp thế giới.

Trong ba mươi năm tiếp theo, các nhà sản xuất Trung Quốc đã giữ cho lạm phát toàn cầu được kiềm chế. Nhưng giờ đây, Bruce Rockowitz nghĩ rằng giai đoạn đó đã kết thúc. Tiền lương ở Trung Quốc đang tăng rất nhanh. Một làn sóng nhu cầu mới, đặc biệt từ chính Trung Quốc, đang làm cho giá cả hàng hóa tăng đột biến.

Các nhà sản xuất có thể tìm kiếm sự thay thế bằng cách di chuyển sản xuất đến một khu vực mới, như phía Tây của Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Malaysia, Ấn Độ và Indonesia. Nhưng ông Bruce Rockowitz dự báo, không có nơi nào trong các khu vực mới có thể kiềm chế lạm phát được như thời phíaNamcủa Trung Quốc từng làm được. Nhiều nơi trong số đó có mức lương đang tăng và hệ thống hậu cần kém cỏi. Không ai có thể cung cấp sự quy mô và hiệu quả như từng được tạo ra khi các nhà sản xuất tập trung về phía Nam Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của một giai đoạn mới

Tuy nhiên, ý kiến của Bruce Rockowitz  có thể không sai nhưng nó không phản ánh tình hình chung cho tất cả các ngành hàng khác của Trung Quốc. Hàng hóa giá rẻ có thể không còn trong lĩnh vực may mặc và sản phẩm gia dụng nhưng lại đang tăng trong lĩnh vực khác, nhất là sản phẩm công nghệ cao.

Trong ngày 31.05.2011, ngày mà Bruce Rockowitz phát biểu tại Hongkong về việc hóa giá rẻ đã kết thúc, thì cuộc triển lãm hàng năm Computex diễn ra tại Đài Bắc, từ ngày 31.05 đến 04.06.2011, đã thể hiện một tình hình khác. Triển lãm Computex đã nhiều người quan tâm đến mức các khách sạn tại Đài Bắc chật kín, dù giá cả tăng cao.

Trong khi những đại gia hàng đầu trong làng công nghệ thế giới như Apple, hay HTC của Đài Loan đều vắng mặt thì có đến 2000 nhà cung cấp đem đến các thiết bị công nghệ tân tiến giá rẻ, rất nhiều trong số đó đến từ Trung Hoa Đại Lục. Các doanh nghiệp đến từ Trung Hoa Đại Lục đã phô trương thanh thế khi thuê đến 500 gian hàng, tăng từ con số 200 của năm trước. Nhiều công ty đến từ cùng các địa phương vốn nổi bật nhờ vào đồ chơi và sản phẩm dệt may giá rẻ.

Nhiều công ty sản xuất thiết bị công nghệ cao của Trung Quốc đã gây chú ý bằng các sản phẩm siêu rẻ, như BananaU cung cấp máy tính bảng chạy hệ điều hành Android với giá chỉ 100 USD, hay máy tính xách tay dùng hệ điều hành Window có thiết kế giống Macbooks với giá dưới 250 USD.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ham muốn tìm hiểu bất cứ sản phẩm nào mà chi phí sản xuất thấp  hoặc dễ dàng tự động hóa để sản xuất chúng. Nay khi chi phí nhân công tăng cao,  họ đã học cách sản xuất nhiều hơn với ít nhân công hơn. Với sự khuyến khích của chính phủ, vành đai kéo dài từ Thâm Quyến đến Quảng Châu chuyển sang các sản phẩm tinh vi hơn, như sản phẩm điện tử.

Sự phát triển này đã giúp cho các nhà sản xuất hàng công nghệ cao giá rẻ của Trung Quốc đẩy mạnh tốc độ sao chép mẫu mã lẫn tính năng của các sản phẩm công nghệ cao của các thương hiệu nổi tiếng thế giới.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 23.06.2011