BÌNH LUẬN VỘI VÃ

Vẫn tự nhủ sẽ đứng ngoài cuộc thị phi trên thế giới ảo. Tuy nhiên, đọc bài viết “Bà Clinton đã thất bại ra sao tại Bắc Kinh?” thì chẳng thể không nói. Tôi xin đi vào từng phần bài viết và đánh giá bằng những nhận định khách quan.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và người đồng cấp Indonesia Marty Natalegawa – Ảnh: Thanh Niên

Phần thứ nhất không có gì quan trọng vì đoạn này chỉ mang tính chất gợi mở để nói đến chuyến đi chẳng mấy thuận buồm xuôi gió của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.

Ai bị động?

Đoạn tiếp theo là: “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc!”. Trong phần này, hình như tác giả chỉ xét đến mỗi điểm đến Trung Quốc. Tuy nhiên, nước này chỉ là một trong 6 điểm đến trong chuyến công du của bà Clinton kéo dài từ ngày 30.8 – 9.9. Sáu điểm đến bao gồm: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Đông Timor, Brunei và Nga. Trong số này, Nga là điểm mà bà Clinton phải đến để dự APEC thay Tổng thống Mỹ Barack Obama bận chuyện tranh cử. Với 5 điểm còn lại thì hết 4 điểm đến nhằm mục tiêu bao vây Bắc Kinh.

Cụ thể, bà Clinton đến quần đảo Cook để dự Hội nghị thượng đỉnh Nam Thái Bình Dương nhằm đảm bảo ảnh hưởng tại đây, vốn là khu vực cửa ngõ nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Khi Washington giữ vững Nam Thái Bình Dương, Bắc Kinh khó có cơ hội đặt căn cứ chuyển tiếp tại đây để vươn ra Ấn Độ Dương, tạo ảnh hưởng ngược lên Trung Đông và Địa Trung Hải.

Điểm đến thứ hai là Indonesia. Giới phân tích đều hiểu rằng Indonesia đang muốn nhấn mạnh vai trò tại ASEAN nên vừa qua rất năng nổ trong việc giải quyết bất đồng tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Sau đó, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa ngược xuôi để ra được tuyên bố 6 điểm về biển Đông. Vì thế, Washington đang ra sức gia cố quan hệ với Jakarta để tranh thủ ảnh hưởng. Giữa tháng 8, không chỉ đẩy nhanh kế hoạch tài trợ chiến đấu cơ F-16 cho Indonesia, Washington còn tuyên bố sẵn sàng cung cấp thêm loại máy bay này cho Jakarta. Trước chuyến đi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland tuyên bố với báo giới một cách rõ ràng rằng: biển Đông là một trong những nghị trình quan trọng chính yếu của đợt công du. Trong chuyến công du trên, khi máy bay đang lơ lửng giữa không trung để đến Indonesia – điểm đến thứ hai, bà Clinton đã đưa đi thông điệp rõ ràng về biển Đông. AFP dẫn lời bà tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng các nước trong khu vực nên cộng tác cùng nhau để giải quyết tranh chấp mà không hề bị ép buộc, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định nước này có “lợi ích quốc gia” trong việc đảm bảo hòa bình và ổn định trên biển Đông. Đây là thông điệp rất rõ ràng cho Trung Quốc, điểm đến thứ ba. Lời tuyên bố như thế là quá rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với biển Đông.

Chưa vội bàn việc bà Clinton đến Trung Quốc. Hai điểm đến tiếp theo là Brunei và Đông Timor. Với Brunei, đây sẽ là nước giữ ghế chủ tịch ASEAN vào năm sau. Vì thế, người ta có quyền xem chuyến thăm đến Brunei là nỗ lực của Mỹ nhằm vận động hành lang, tránh để lặp lại sự cố Campuchia như vừa qua. Cuối cùng, Đông Timor, một nước khá thân cận với Indonesia và cũng là thành viên sắp tới của ASEAN. Việc tranh thủ Đông Timor cũng là cách để Mỹ cạnh tranh nhằm có thêm sự ảnh hưởng tại ASEAN.

Với một nội dung công du như thế, chắc chắn, Washington từ sớm chẳng kỳ vọng bà Clinton sẽ được đón tiếp nồng ấm tại Bắc Kinh. Sự lạnh nhạt của Trung Quốc là dễ hiểu. Đồng thời, đó là sự lạnh nhạt thụ động khi Mỹ đi “ngoại giao” nhưng từ sớm thể hiện rõ thái độ “bao vây”.

Cũng chính vì vậy, việc Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tỏ ra cứng rắn cũng là điều dễ hiểu. Có lẽ, với những bộ não đầy sạn tại Washington thì họ cũng đã dự tính trước kịch bản trên. Vì thế, chẳng có bẫy nào ở đây để Ngoại trưởng Clinton “sập” đến mức “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc” như bài viết của tác giả Danh Đức đề cập.

Phần tiếp theo của bài viết là: “Phục hận năm xưa”. Theo những gì vừa đề cập, Bắc Kinh đang phản ứng thụ động chứ chẳng phải “phục hận” bằng một chiếc bẫy giăng từ sớm. Trong phần này, tác giả còn cho rằng “chỉ hai giờ trước khi bà Clinton rời Bắc Kinh, loan báo tin truy tố Vương Lập Quân, nguyên giám đốc Công an Trùng Khánh, từng tìm cách xin tị nạn trong Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô vào tháng 2 vừa qua”. Thực tế, việc loan tin (không chính thức) thời điểm xét xử ông Vương đã có từ hồi cuối tháng 8. Mãi đến ngày 14.9, tòa án TP. Thành Đô, Trung Quốc, mới chính thức đưa tin xét xử ông Vương vào ngày 18.9. Vì thế, dựa vào tình tiết trên để bình luận thì hơi võ đoán. Ngoài ra, tác giả quên rằng, một đại diện của Bắc Kinh vào Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô để “đón” Vương Lập Quân đi về. Điều đó được xem là một trong những bằng chứng cho thấy ông Vương thực sự không có nhiều giá trị để Mỹ phải giữ lại.

Nhập nhằng nợ nần

Tiếp đến, trong phần: “Nợ vay khó trả”, tác giả dùng việc TQ đang là chủ nợ lớn của Mỹ để chứng minh Washington lệ thuộc Bắc Kinh. Nợ công của Mỹ đang là 16.000 tỉ USD nhưng tín nhiệm tín dụng nước này khác xa các quốc gia Nam Âu. Khi cần, Mỹ thừa sức huy động thêm tiền ngàn tỉ để trả TQ.

Tuy nhiên, thực tế Bắc Kinh khó dùng chuyện nợ để uy hiếp Washington vì đó cũng là cái giá mà TQ đang trả vì tăng trưởng kinh tế lệ thuộc vào xuất khẩu. Dân TQ còng lưng làm để dân Mỹ ra sức xài, Bắc Kinh nhận về đống giấy nợ vô tri vô giác. Dự trữ ngoại tệ nhiều nhưng dự trữ vàng, tính ổn định cao hơn, đang là thách thức của TQ. Vàng vẫn là thứ bảo chứng hữu hiệu hơn đống giấy nợ kia. Có thời gian, sẽ phân tích kỹ hơn về quá trình Mỹ bảo chứng USD bằng vàng với tỉ giá cố định 35 USD cho 1 ounce vàng. Phân tích chuyện này mới thấy Mỹ ăn dày và chắc như thế nào trong suốt gần 30 năm từ thập niên 1940 đến 1970.

Philippines hết cần Mỹ?

Phần cuối cùng, tác giả đặt câu hỏi: “Quan hệ Mỹ – Philippines có xuống cấp?”. Tác giả Danh Đức sử dụng sự kiện Philippines mua Airbus mà không mua Boeing để góp phần định hướng câu trả lời. Thực tế cho thấy, một hợp đồng trị giá 7 tỉ USD thì chắc chắn phải được bàn thảo từ rất lâu, trong khi Trung Quốc – Philippines chỉ mới căng thẳng quá mức từ sau vụ đụng độ ở bãi cạn Scarborough vào ngày 10.4. Ngoài ra, cũng cần xét đến yếu tố khách quan là hợp đồng trên của hãng hàng không thương mại nên phụ thuộc vào loại máy bay mà họ chọn lựa thì Airbus hay Boeing mạnh hơn. Mỹ chẳng thể ngang ngược đến mức ép buộc đối tác phải mua hàng ngay cả khi không phù hợp.

Tiếp theo, tác giả bình luận về việc tàu tuần duyên BRP Gregorio del Pilar. Ở đây, không rõ là tác giả viếc sai hay vì lỗi biên tập, chiếc tàu trên là tàu “tuần duyên” không phải “tuần dương” như bài viết đề cập. Hai loại tàu này rất khác nhau về qui mô. Tác giả cũng cho rằng vì không được Mỹ đưa cho tàu xịn nên Philippines chuyển qua cầu viện Nhật Bản và được viện trợ 12 tàu tuần tra (cỡ nhỏ). Thực tế, Nhật Bản chưa chính thức công bố  sẽ cung cấp loại tàu đến mức độ nào và ưu đãi ra sao. Ngoài ra, Tokyo và Manila đã thảo luận việc viện trợ trên từ lâu, chỉ là công bố rộng rãi trong một thời điểm nhạy cảm. Từ năm 1990, Nhật Bản đã bắt đầu chương trình hỗ trợ hiện đại hóa Lực lượng tuần duyên Philippines. Đây cũng là một phần trong nỗ lực của Tokyo nhằm thắt chặt quan hệ tại Đông Nam Á. Ngoài ra, trong tình thế hiện tại, Philippines chẳng có lý do gì để từ chối những viện trợ như thế. Vì thế, sẽ rất gượng ép khi đánh giá động thái nhận viện trợ đã chứng minh quan hệ Washington – Philippines xuống cấp. Ngoài ra, tác giả cho rằng “Bực dọc, Philippines gõ cửa chỗ khác tự mua cũng chính các khẩu phòng không hai nòng tác xạ tự động Mk.38 để cho tàu của mình đừng trở thành “bia bắn””. Là một người từng có nhiều bài viết về quân sự, tác giả Danh Đức thừa hiểu rằng khẩu MK.38 chẳng giúp gia tăng thêm sức mạnh đáng kể cho tàu chiến. Đồng thời, tác giả cũng bỏ qua chi tiết Bộ Quốc phòng Philippines ngày 10.9 tuyên bố sẽ lắp tên lửa đối hải Harpoon cho tàu chiến BRP Gregorio del Pilar. Harpoon là tên lửa trứ danh của Mỹ chuyên chống tàu chiến. Không cần bàn thêm cũng hiểu việc trang bị loại hỏa tiễn này sẽ tăng thực lực thế nào cho tàu chiến Philippines. Đó là chưa nói đến việc tàu chiến Mỹ liên tục cập cảng Philippines trong thời gian qua. Diễn biến này là những động thái có tác động lớn về chính trị lẫn ngoại giao.

Xin kết thúc tại đây và bỏ qua việc đánh giá  quan điểm cá nhân của bài viết.

Ngô Minh Trí

ARROYO, THỜI VANG BÓNG CÒN ĐÂU

Bà Arroyo bị ngăn không cho sang Singapore ngày 15.11 - Ảnh: AFP

Từng là một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế giới nhưng cựu Tổng thống Philippines Arroyo đang nằm trên giường bệnh với sự canh gác của cảnh sát.

AFP dẫn lời giới chức cảnh sátPhilippinescho biết đã lấy dấu vân tay của cựu Tổng thống Gloria Arroyo ngày 19.11 khi bà đang mặc chiếc áo dành cho bệnh nhân. Theo các thông tin từ người thân và nhân viên bệnh viện ở thủ đô Manila thì bà Arroyo đang sụt cân, huyết áp tăng cao, ăn không ngon miệng và tiêu chảy.

Cảnh sát bắt cựu Tổng thống ngày 18.11 sau khi nhà chức trách ngăn không cho bà sangSingaporechữa một chứng bệnh hiếm về xương. Chính quyền của Tổng thống Benigno Aquino III cho rằng việc đi chữa bệnh chỉ là cái cớ để bà Arroyo bỏ trốn trước nhiều cáo buộc tham nhũng, lạm quyền và gian lận bầu cử. Cựu tổng thống 64 tuổi có thể lãnh án chung thân nếu bị phán quyết có tội.

Trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình ABS-CBN ngày 20.11, một luật sư của gia đình Arroyo cho rằng bà bị “ngược đãi” và sẽ không được xét xử công bằng. Vị luật sư này cũng bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Aquino III rằng chính quyền đảm bảo thực hiện đúng các quy trình tố tụng và tôn trọng các quyền của bà Arroyo. Đây được xem là diễn biến bước ngoặt trong cuộc chiến đưa người tiền nhiệm ra tòa của Tổng thống Aquino III. Ngay khi đắc cử tổng thống vào năm ngoái, ông Aquino III đã tuyên bố sẽ làm trong sạch đất nước và bắt đầu từ những cáo buộc dành cho bà Arroyo. Khi bị bắt, bà đang là dân biểu và người phát ngôn Hạ viện Feliciano Belmonte Jr vừa tuyên bố bà vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi của một nghị sĩ.

Lẫy lừng và tai tiếng

Cuộc bầu cử năm 1998 đã đưa bà Arroyo vào vị trí Phó tổng thốngPhilippines, đứng sau ông Joseph Estrada. Đến đầu năm 2001, bà thực hiện cuộc chính biến hạ bệ Tổng thống Estrada với các cáo buộc ông này tham nhũng và chính thức bước vào vị trí lãnh đạoPhilippines. Bà Arroyo lại tiếp tục giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 để bắt đầu nhiệm kỳ mới kéo dài 6 năm. Đến năm 2005, bà được Tạp chí Forbes chọn vào vị trí thứ 4 trong danh sách những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới.

Trong suốt giai đoạn cầm quyền, bà Arroyo đối mặt với không ít cáo buộc nhưng đều “tai qua nạn khỏi” và còn vượt qua một số âm mưu đảo chính quân sự. Một trong những cáo buộc gây chấn động nhất là bà Arroyo đã lạm quyền và gian lận trong cuộc bầu cử thượng viện năm 2007 để giúp các đồng minh thân cận. Trong số đó, có gia tộc đầy quyền lực Ampatuan, vốn bị cáo buộc chỉ đạo giết hại 57 người trong vụ thảm sát đối thủ chính trị hồi cuối năm 2009.

Bên cạnh đó, nữ cựu tổng thống còn bị tố cáo tham nhũng khi hưởng lợi từ các hợp đồng với nước ngoài và sử dụng ngân sách nhà nước cho chiến dịch tranh cử. Đặc biệt, đoạn băng ghi âm xuất hiện năm 2005, ghi lại cuộc nói chuyện giữa bà Arroyo và một quan chức về việc đảm bảo số phiếu bầu dành cho bà trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004. Khi đó, bà đã xin lỗi nhưng khẳng định mình không làm gì sai và vụ việc mau chóng “chìm xuồng”.

Nhiều năm qua, hồ sơ về các cáo buộc trên vẫn nằm trong ngăn kéo của Bộ Tư phápPhilippines. Từ sớm, bà Arroyo cũng đã bổ nhiệm nhiều người thân cận vào chức vụ thẩm phán tòa án tối cao và chạy đua thành công vào Hạ viện năm 2010 nhằm đảm bảo sự ảnh hưởng trên chính trường và giữ an toàn sau khi hết nhiệm kỳ tổng thống. Tuy nhiên, những động thái trên vẫn không thể giúp bà Arroyo thoát khỏi bị xét xử. Cảnh bà tiều tụy ngồi trên xe lăn khi bị chặn tại sân bay ngày 15.11 vẫn khiến nhiều người ngậm ngùi khi nó quá đối lập với hình ảnh một nữ tổng thống rực rỡ và quyền lực ngày nào.

Ngô Minh Trí (Thanh Niên ngày 21.11.2011)

Bà Gloria Macapagal-Arroyo, sinh ngày 5.4.1947, tạiSan Juan,Philippinesvà là con gái của ông Diosdado Macapagal, tổng thống thứ 9 của nước này. Bà từng nhận học vị tiến sĩ và là giáo sư kinh tế tại Đại học Ateneo de Manila ởPhilippines. Theo một số nguồn tin, đương kim Tổng thống Aquino III từng là sinh viên của bà ở Ateneo de Manila.

Năm 1987, bà Arroyo chuyển qua làm việc ở Bộ Công thương và đắc cử thượng nghị sĩ vào năm 1992. Đến năm 1998, bà trở thành phó tổng thống rồi nắm giữ vị trí nguyên thủPhilippinesnăm 2001.

Năm 1968, bà lấy ông Jose Miguel Tuason Arroyo, sinh năm 1946, và hai người có 3 người con.

Mỹ nói châu Á cần một cấu trúc mới

Mối quan hệ Mỹ – Trung vẫn rất phức tạp và khó lường – Ảnh: AFP

Washingtonnhấn mạnh châu Á cần có một cấu trúc mới tương xứng với sự phát triển. 

Tại hội nghị quốc gia thường niên do Ủy ban các vấn đề quốc tế của Mỹ tổ chức ngày 4.11, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William J.Burns đã phát biểu về chiến lược thế kỷ mới củaWashington. Website Bộ Ngoại giao nước này đăng lại toàn văn bài phát biểu trên. Nhắc đến bài Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ của Ngoại trưởng Hillary Clinton đăng trên tạp chí Foreign Policy hồi tháng trước, ông Burns khẳng định châu Á có vai trò trung tâm đối với chính trị toàn cầu.

Thứ trưởng Burns nhấn mạnh: “Sự trỗi dậy của châu Á không chỉ là các nền kinh tế hay những thành phố phát triển mạnh mẽ, mà còn vẽ lại bản đồ địa chiến lược của khu vực”. Ví dụ cho nhận định trên, ông Burns nói biển Đông hiện đóng vai trò quan trọng hơn, bao hàm quyền lợi chung đối với quốc tế, trong giao thương hàng hải. Vì thế, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ cho rằng: “Chúng ta cần phát triển cấu trúc ngoại giao, kinh tế và an ninh theo kịp sự thay đổi sâu sắc của châu Á… Sự lãnh đạo của Mỹ trong việc thực hiện cấu trúc trên sẽ đem lại lợi ích về sau cho đất nước và giúp châu Á khai thác được tiềm năng trọn vẹn”. Thứ trưởng Burns nói điều đó giống như việc Mỹ đã xây dựng một mạng lưới quan hệ toàn diện và lâu dài giữa hai bờ Đại Tây Dương. Như vậy, Mỹ sẽ tham gia vào sự trỗi dậy của châu Á để tạo tiền đề cho những lợi ích về sau, điều mà nước này từng làm đối với châu Âu vào thế kỷ trước. Tháng này, Tổng thống Barack Obama sẽ mở màn cho các hoạt động của Mỹ tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á.

Thứ trưởng Burns cũng khẳng định tiếp tục phát triển những quan hệ chiến lược sẵn có, trong đó liên minh với Nhật đóng vai trò sống còn. Washington cũng đang đẩy mạnh xây dựng liên kết với Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Singapore, New Zealand, Mông Cổ và Brunei. Trong đó, Mỹ mong muốn kết hợp cùng Ấn Độ để tăng cường sự tham dự tại châu Á. Ông Burns nói Washington đang phát động hình thành nhóm tham vấn 3 bên Mỹ – Ấn – Nhật trong các vấn đề của châu Á. Thứ trưởng Burns còn cho biết Washington sẵn sàng có mối quan hệ tốt với Bắc Kinh và châu Á “đủ lớn” cho Mỹ, Ấn Độ lẫn Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Burns cũng khẳng định mối quan hệ Mỹ – Trung rất phức tạp, khó lường trước hai bên sẽ xung đột hay hợp tác. Thứ trưởng Burns từng cảnh báo điều vừa nói trong Hội nghị quan hệ Mỹ – Trung diễn ra vào ngày 24.10 tạiTexas.

 Ngô Minh Trí (Thanh Niên 07.11.2011)

CÁI BÓNG IRAN Ở VÙNG VỊNH

Mỹ đang rất lo lắng trước ảnh hưởng đang ngày càng lớn của Iran tại Iraq nhất là khi nước này đang chuẩn bị rút hết quân vào ngày 31.12.

Báo mạng The Huffington Post vừa đăng bài bình luận mới nhất của Haggai Carmon, chuyên gia quan hệ quốc tế và có nhiều năm làm việc tại Trung Đông, về tương lai Iraq sau khi Mỹ rút quân. Theo ông Carmon, có thể tạm chia cục diện chính trị, an ninh ởIraqtrong tương lai thành 3 khu vực. Đầu tiên là khu vực phía nam tập trung phần đông người Hồi giáo Shiite, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từIran. Người Kurd chiếm hầu hết phía bắc có thể đẩy mạnh đấu tranh để thành lập quốc gia riêng. Phần cuối cùng củaIraqlà khu vực xung quanh thủ đôBaghdad, nơi đa số dân chúng theo Hồi giáo Sunni.

Hai khu vực phía bắc và nam là những mảnh đất màu mỡ với trữ lượng dầu mỏ khổng lồ. Ngược lại, khu vực xung quanhBaghdadcủa người Sunni lại chẳng có tài nguyên gì trong khi phải nuôi 10 triệu miệng ăn. Theo kịch bản trên, Iran có lợi nhất khi dễ dàng chi phối khu vực phía nam Iraq rộng lớn, nhiều dầu mỏ mà không gặp phải khó khăn đáng kể, đồng thời đang ra sức phối hợp với Thổ Nhĩ Kỳ kiềm chế người Kurd ở phía bắc Iraq.

Chuyên gia uy tín về Trung Đông Alireza Jafarzadeh cũng bình luận trên The Huffington Post rằng Mỹ rút quân khỏiIraqlà mở cửa choIranvào nước này. Minh họa cho nhận định trên, ông Jafarzadeh dẫn lời của Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad nói Tehran sẽ lấp đầy khoảng trống quyền lực ở Iraq thời hậu Mỹ. Ông Ahmadinejad cũng khẳng định ảnh hưởng của Tehran đối với nước láng giềng: “Chúng tôi có quan hệ rất tốt với cả chính phủ lẫn quốc hội Iraq”.

Dằn mặt tướng Mỹ

Từ lâu,Iranđã không ngần ngại thể hiện cho Mỹ thấy ảnh hưởng của mình tạiIraq. Theo The Guardian, đương kim Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) David Petraeus từng bị “dằn mặt” bởi thiếu tướng Qassem Suleimani, người đứng đầu lực lượng đặc nhiệm Quds khét tiếng của Iran. Năm 2008, khi đang là Tổng tư lệnh lực lượng đa quốc gia tại Iraq, tướng Petraeus được giới lãnh đạo cấp cao của nước này chuyển một tin nhắn điện thoại di động được cho là do ông Suleimani gửi. Nội dung tin nhắn như sau: “Tướng Petraeus, ông nên biết rằng tôi, Qassem Suleimani, là người điều khiển chính sách củaIranđối vớiIraq, Li Băng, Dải Gaza vàAfghanistan”. Tin nhắn còn nói thẳng: “Đại sứIrantạiBaghdadlà thành viên của Quds và bất cứ ai thay thế ông ấy đều thuộc Quds”.

Các chuyên gia cho rằng tướng Suleimani không hề phóng đại về quyền lực và tầm ảnh hưởng của ông. Thông qua các nhà lập pháp Iraq, vốn đa số là tín đồ Hồi giáo Shiite, Suleimani gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên nội bộ Iraq và thường xuyên gặp gỡ giới lãnh đạo nước này. Năm 2006, vị tướng này từng vào vùng Xanh, khu vực thuộcBaghdadđược Mỹ canh phòng cẩn mật nhất, mà không cần đem theo vệ sĩ. Thậm chí Mỹ chỉ biết chuyện này sau khi ông đã đi khỏi, theo The Guardian. Mowaffak al-Rubaie, cựu Bộ trưởng An ninh quốc giaIraq, nhận xét tướng Suleimani “là người quyền lực nhấtIraq” và can dự vào mọi vấn đề của nước này. Ngoài ra, ông Suleimani còn có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trong khu vực, chẳng hạn nhưSyria.

Tướng Suleimani trong nhiều năm qua đã từng bước giành được quyền lực rất lớn ởIranvà là người quyết định đường hướng ngoại giao của nước này đối vớiIraq. Reuters dẫn lời Karim Sadjadpour, chuyên gia về chính sách đối ngoại tại Washington, cũng nói: “Qassem Suleimani là nhân vật quyền lực số 2 tại Iran, chỉ sau Đại giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei và thậm chí hơn cả Tổng thống Mahmoud Amedinejad”. Theo đó, Đại giáo chủ Khamenei và ông Suleimani có thể đã trực tiếp cho phép thực hiện các kế hoạch mà Tổng thống Ahmadinejad không hề biết.

Các nước mà Mỹ muốn hình thành “cấu trúc an ninh” - Đồ họa: Du Sơn

Ngoài ra, Reuters dẫn lời 3 quan chức giấu tên của Mỹ nhận địnhWashingtonđang lo ngại việc lực lượng Quds, do ông Suleimani lãnh đạo, đang đẩy mạnh hoạt động trên khắp thế giới. Quds là đơn vị “hạt nhân” của Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáoIran, chuyên hỗ trợ các phong trào cách mạng Hồi giáo trên thế giới, đặc biệt tạiIraq. Hồi tháng trước, lực lượng này cũng bị Mỹ cáo buộc đứng sau âm mưu ám sát Đại sứ Ả Rập Xê Út tạiWashington.

Gọng kìm của Washington

Tất nhiên,Washingtonkhông im lặng nhìnTehrandiễu võ dương oai. Ngoại trưởng Hillary Clinton cảnh báoIranđừng nghĩ rằng Mỹ sẽ không còn ảnh hưởng sau khi rút quân khỏiIraq. Trả lời phỏng vấn của CNN, bàClintoncho biết Mỹ sẽ tăng cường hiện diện quân sự ở những nơi lân cận thay cho các căn cứ tạiIraq.

Ngoại trưởng Mỹ nói: “Chúng tôi có đồng minh NATO ở Thổ Nhĩ Kỳ cùng với nhiều sự hiện diện trong khu vực. Các nước, đặc biệt làIran, đừng nên tính toán sai lầm về cam kết của chúng tôi trong việc đưaIraqtiến về phía trước”. AFP cũng dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cảnh báoIrankhông nên can thiệp vàoIraqsau khi lính Mỹ rời khỏi đây và nhấn mạnh rằng nước này sẽ tiếp tục duy trì sức mạnh tại Trung Đông.

Theo tờ The New York Times, chính quyền của Tổng thống Barack Obama đang lên kế hoạch phân bổ lại sức mạnh ở vùng Vịnh, nhằm tạo ra một thế trận kiềm chế Iran. Mỹ đang có 40.000 quân trong khu vực, bao gồm 23.000 binh sĩ đang đồn trú tạiKuwait. Trong quá khứ, khoảng thời gian giữa 2 cuộc chiến tranh Iraq năm 1991 và 2003, Mỹ đã đồn trú tại Kuwait từ 1 tiểu đoàn đến 1 lữ đoàn chiến đấu, đồng thời thiết lập 1 kho vũ khí khổng lồ tại nước này, đủ sức vũ trang cho một lực lượng lớn.

Sắp khi rút quân khỏiIraq, Lầu Năm Góc dự định sẽ bổ sung thêm các lực lượng tạiKuwaitvà điều thêm một số tàu chiến đến nước này để phòng ngừa chính quyềnIraqmất khả năng kiểm soát hoặc Mỹ xung đột vũ trang vớiIran.

Ngoài ra, Mỹ sẽ nỗ lực mở rộng quan hệ quân sự với 6 thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh là Ả Rập Xê Út, Kuwait, Bahrain, Qatar, UAE và Oman. Sẵn có mối quan hệ quân sự song phương chặt chẽ với các nước này, Mỹ muốn xây dựng một “cấu trúc an ninh” mới gồm không quân, hải quân và hệ thống phòng thủ tên lửa ở vùng Vịnh.

Ngô Minh Trí (Thanh Niên 06.11.2011)

 

Các kịch bản tấn côngIran

Mấy ngày qua rộ lên nhiều đồn đoán rằng Mỹ vàIsraelđang lên kế hoạch tấn côngIranvới sự hỗ trợ của Anh, theo tờ The Guardian ngày 3.11. Tờ báo dẫn lời các chuyên gia đánh giáIranđang ở trong tình trạng giốngIraqvào năm 2003. Mỹ có thể sử dụng báo cáo về vấn đề hạt nhânIrando Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đưa ra vào tuần tới, làm căn cứ “trừng phạt” nước CH Hồi giáo.

Giới chuyên gia nhận định nếu thật sự có chuyện tấn công thì Mỹ sẽ sử dụng không quân làm chủ đạo để phá hủy các cơ sở hạt nhân bí mật củaIran. Kịch bản tấn công quen thuộc nhất sẽ là phong tỏa bầu trờiIranvà bắn phá nước này bằng tên lửa cùng máy bay không người lái. Bên cạnh đó,Washingtoncũng có thể sử dụng các lực lượng đặc nhiệm để thực thi những sứ mệnh trên bộ, nhưng biện pháp này chỉ được sử dụng một cách hạn chế. Giới quan sát cũng cho rằng sẽ không có chiến tranh tổng lực vì đó sẽ là một quyết định liều lĩnh của Mỹ.

Tuy nhiên, khả năng Mỹ tấn côngIrankhông cao bằng hành động gây chiến bắt nguồn từIsrael. Ngày 4.11, CNN dẫn nguồn tin từ quan chức quân sự cấp cao giấu tên của Mỹ nói nước này đang lo ngạiIsraelsẽ ra tay. Quân đội và tình báo Mỹ đang theo dõi chặt chẽ các động thái của cảIsraellẫnIran. Cũng đang có nhiều tin đồn rằng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barack đang cố thuyết phục nội các đồng ý phương thức tấn công phủ đầu. Theo giới quan sát,Israelcó thể sử dụng máy bay chiến đấu và tên lửa đạn đạoJerichođể tấn côngIran. Tuy nhiên, việc sử dụng máy bay bị đánh giá là rất mạo hiểm vì lưới phòng không củaIranrất mạnh.

Đáp lại,Tehrantuyên bố đã sẵn sàng đáp trả mạnh mẽ mọi hành động gây hấn, đồng thời cảnh báoWashingtonvà Tel Aviv sẽ trả giá đắt nếu manh động. Cũng có ý kiến cho rằng những thông tin về kế hoạch tấn công có thể là “đòn gió” của Israel nhằm chuyển hướng dư luận khỏi những khó khăn trong đối ngoại lẫn đối nội của nước này hiện nay.

BƯỚC XUỐNG ĐỂ TIẾN LÊN

Ông Lý Quang Diệu đã bước xuống để đất nước có thể tiến lên

 Ngày 14.05.2011, bộ trưởng cố vấn Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) và bộ trưởng cao cấp Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) của Singapore bất ngờ tuyên bố rút khỏi nội các của Singapore, đang do thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu, lãnh đạo.

Từ năm 1959 đến nay, ông Lý Quang Diệu luôn là một lãnh đạo chủ chốt với 31 năm đảm nhiệm chức vụ thủ tướng, 14 năm trong cương vị bộ trưởng cao cấp trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống và là bộ trưởng cố vấn từ năm 2004 đến nay. Trong suốt quá trình đó, Singapore đã phát triển từ vị trí của một cảng biển kém phát triển, một đất nước thuộc thế giới thứ ba không có cơ sở kinh tế nào đáng kể, thiếu thốn tài nguyên nhưng đã phát triển mạnh mẽ để trở thành một quốc gia phát triển của thế giới thứ nhất với thu nhập đầu người khoảng 48.000 đô la Mỹ vào năm 2010. Cho nên, quyết định trên của ông Lý Quang Diệu và ông Ngô Tác Đống là một dấu ấn quan trọng không chỉ đối với chính trường Singapore mà còn quan trọng đối với cả đảo quốc sư tử.

Cũng vì thế, trước quyết định trên của ông Lý Quang Diệu, một số ý kiến tỏ ra hối tiếc và mong muốn ông Lý Quang Diệu tiếp tục hiện diện trong nội các chính phủ. Goh Yook Kim, một công dân Singapore 70 tuổi đã nghỉ hưu, nói rằng đó là một “điều đáng tiếc”, cho rằng: “Điều đó giống như có một kho báu và chúng ta ném kho báu ấy đi”. Goh Yook Kim là một trong trong số 120 người dân được nhật báo Straits Times (Singapore) thăm dò ý kiến về việc từ chức của hai bộ trưởng. Hầu hết những người được hỏi chỉ ra rằng việc bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô tiếp tục tại chức là cần thiết hơn để đưaSingapore tiến lên.

Tuy nhiên, không phải ai cũng nghĩ như thế. Trong cuộc phỏng vấn của Straits Times, nhà kinh doanh Chung Peng Hock, 48 tuổi, nói rằng: “Với sự thiếu vắng bộ trưởng cố vấn Lý trong bức tranh (nội các), các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ sẽ có cơ hội để chứng minh rằng họ có khả năng lãnh đạo đất nước của mình mà không phải dựa vào ông ấy”. Còn Cham Mooi Kiong, 58 tuổi và là chủ một cửa hàng tiện lợi, cho rằng thủ tướng Lý Hiển Long đã sẵn sàng tự lãnh đạo nội các của mình từ lâu khi nhận xét rằng: “Thủ tướng Lý (Hiển Long) đã sẵn sàng xây dựng đội ngũ của riêng ông ấy trong năm năm qua. Thật là không công bằng nếu nói rằng ông ta có thể lãnh đạo kể từ bây giờ khi bộ trưởng cố vấn và bộ trưởng cao cấp từ chức”.

Không những thế, có cả ý kiến thẳng thắn cho rằng sự ở lại của hai bộ trưởng là không cần thiết. Nhân viên ngân hàng Crystal Chan, 28 tuổi, trả lời phỏng vấn của Straits Times là: “Tôi nghĩ rằng cuộc bầu cử vừa qua đã cho thấy một điều khá rõ ràng là cả bộ trưởng cố vấn lẫn bộ trưởng cao cấp đều đã đánh mất sự tiếp xúc với thế hệ trẻ, và nếu họ ở lại trong nội các thì họ chỉ đóng vai trò như cái bóng trong các chính sách của thủ tướng mà thôi”.

Một số chuyên gia cũng có nhận định là lẽ ra bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô nên từ chức sớm hơn. Bridget Welsh, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, phát biểu với hãng thông tấn AFP là: “Việc nghỉ hưu của ông Lý Quang Diệu đã dài quá hạn, vì ông ấy đã mất kết nối với thế hệ Singapore hiện tại”. Reuters trích dẫn Eugene Tan, trợ lý giáo sư tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, nhận xét việc xem ông Lý Quang Diệu như một lãnh đạo toàn năng là “lỗi thời” và “thậm chí là độc tài”.

Kết quả của cuộc bầu cử vừa qua cho thấy những nhận xét của các chuyên gia là xác đáng. Trong cuộc bầu cử vừa qua, mặc dù đảng Nhân dân hành động (PAP) của ông Lý Quang Diệu vẫn chiếm áp đảo 81 ghế trong số 87 ghế tại quốc hội nhưng đã có một sự giảm sút đáng kể trong tín nhiệm của người dân khi tỷ lệ bầu cho PAP chỉ còn 60,1%, mức thấp kỷ lục kể từ khi PAP được thành lập. Tỷ lệ ủng hộ dành cho PAP đã giảm nhanh trong mười năm qua khi tỷ lệ bỏ phiếu dành cho PAP vào năm 2001 là 75% và năm 2006 là 67%. Vị thế của lực lượng đối lập cũng tăng lên khi các đảng đối lập chỉ dám tranh cử 47 ghế trong 84 ghế tại cuộc bầu cử năm 2006 thì nay họ đã dám tranh cử 82 trong 87 ghế trong cuộc bầu cử quốc hội vừa qua.

Khi PAP đang mất dần sự ủng hộ của dân chúng thì quyết định của ông Lý Quang Diệu là để chứng tỏ với người dân rằng PAP đang thay đổi, nhằm lấy lại sự ủng hộ của người dân. Mặc dù có thể quyết định trên không tạo ra sự thay đổi chính sách của PAP như Eugene Tan nhận xét, nhưng dù sao đi nữa thì quyết định thoái lui của ông Lý Quang Diệu có thể xem là một quyết định phù hợp với những chuyển biến của ý chí người dân, như những nhận xét trên.

Như thế, một lần nữa, Lý Quang Diệu cho thế giới thêm một bài học về cầm quyền. Bài học đó là dù người lãnh đạo có đóng góp nhiều như thế nào cho đất nước thì vẫn phải tuân theo ý chí của người dân chứ không phải mãi là người dẫn đường dân chúng, người lãnh đạo phải sẵn sàng bước xuống để đất nước tiến lên.

Ngô Minh Trí

“BÌNH MINH ODYSSEY”: HÃY CHỜ VÀ XEM

Máy bay thả bom đắt nhất thế giới B2 - Spirit, của không lực Hoa Kỳ, trị giá 2,2 tỷ USD cũng đã tham chiến (ảnh: Rediff)

Khi liên quân, dẫn đầu bởi Mỹ, Pháp, Anh, bắt đầu tấn công Libya bằng không quân, thì rất nhiều ý kiến bình luận xoay quanh sự kiện này. Thế nhưng, để giải mã hoàn toàn những gì đang diễn ra thì không hề đơn giản. Đầu tiên là mục tiêu của cuộc tấn công.

Dầu mỏ được nhiều người nhắc đến như một lý do khiến cho liên quân phát động chiến tranh. Nhiều người cho rằng Hoa Kỳ cùng phương Tây cần một sự đảm bảo lâu dài đối với nguồn cung cấp dầu mỏ của Libya. Thế nhưng, những số liệu thực tế chưa đủ để giả thuyết trên trở nên thuyết phục. Theo số liệu thống kê, sản lượng khai thác của Libya, xếp thứ 10 về trữ lượng tương đương khoảng 3% trữ lượng toàn cầu, chỉ đang chiếm khoảng 2% sản lượng khai thác toàn cầu với mức khai thác dao động từ 1,4 đến 1,8 triệu thùng mỗi ngày. Sản lượng khai thác trên chỉ tương đương mức tăng thêm của nhu cầu hàng năm trên toàn cầu và nhỏ hơn so với mức biến thiên khai thác của OPEC. Khi Libya bất ổn, OPEC đã nhanh chóng đảm bảo năng lực bình ổn thị trường dầu mỏ thế giới. Với thực tế đó, dầu mỏ của Libya khó có thể xem là một mục tiêu cốt lõi hấp dẫn đến mức liên quân phải “dấy động can qua”, dù đó có thể là một trong những lý do.

Hơn thế nữa, không có dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ và phương Tây đã “ngắm nghía” dầu mỏ nên đánh Libya vì rõ ràng là cuộc can thiệp quân sự của liên quân vào Libya lần này không có được sự chuẩn bị lâu dài như những gì Hoa Kỳ từng làm với chiến tranh Iraq vào năm 2003. Ngoài ra, trước khi bất ổn bùng nổ tại Bắc Phi và Trung Đông, mối quan hệ giữa Libya với Hoa Kỳ và phương Tây đang ngày càng trở nên nồng ấm hơn.

Một giả thuyết có thể xem xét trong trường hợp này chính là Hoa Kỳ và phương Tây muốn mượn Libya để đe dọa các quốc gia khác trong vùng nhằm tránh tình trạng đàn áp quá đà. Lúc đầu, khi nội chiến Libya bắt đầu bùng nổ, Pháp, Anh và Mỹ rất hăng hái đề cập đến một “vùng cấm bay” nhưng sự quyết tâm giảm dần theo thời gian. Chỉ đến khi quân nổi dậy từ chổ chiếm ưu thế chuyển sang thế yếu thì một số quốc gia trong vùng lại xem phương pháp của Gaddafi là hiệu quả để giải quyết bất ổn. Các quốc gia Ả Rập đã điều quân đến hỗ trợ Bahrain đàn áp lực lượng nổi dậy, Yemen cũng mạnh tay hơn với lực lượng chống đối. Khi đó, nếu các quốc gia trong vùng này đồng loạt mạnh tay thì bất ổn Bắc Phi và Trung Đông có thể căng thẳng hơn rất nhiều, nhất là khi các bất đồng sắc tộc trong nội bộ người Hồi giáo bắt đầu được đào sâu. Một cuộc xung đột diện rộng là một viễn cảnh hoàn toàn có thể xảy ra. Viễn cảnh ấy xảy ra có thể kéo theo một cuộc khủng hoảng dầu mỏ thực sự và quyền lợi cả về kinh tế lẫn chính trị, quân sự tại khu vực có thể bị lung lây. Trong số các quốc gia đang bất ổn, quan hệ giữa Hoa Kỳ, phương Tây với Libya là lỏng lẻo nhất nên Libya trở thành mục tiêu.

Tuy nhiên, đó cũng vẫn chỉ là một giả thuyết và động cơ thực sự của cuộc chiến vẫn chưa được giải mã trọn vẹn. Khi động cơ chưa được giải mã trọn vẹn thì khó ai có thể phân tích chuẩn xác diễn biến của cuộc chiến để trả lời rằng mức độ can thiệp quân sự sẽ đến đâu? Liên quân có đổ bộ vào Libya hay không? Tất cả đều là ẩn số khó giải. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã quá chán chường với chiến trường Afghanishtan mà họ đang sa lầy cũng như chiến trường Iraq mà họ đang cố thoát ra hoàn toàn. Thế nên, một chiến trường toàn diện mới sẽ là một nước đi đầy rủi ro cho Hoa Kỳ, thêm một chiến trường bị sa lầy sẽ càng khiến nước Mỹ khó khăn hơn. Đó cũng là rủi ro cho sinh mệnh chính trị của ông Obama khi chiến dịch tranh cử cho nhiệm kỳ thứ hai không còn xa. Nếu không có Hoa Kỳ, thì Anh và Pháp hay NATO khó có khả năng đáp ứng một cuộc chiến tranh mà chi phí sẽ là một con số khổng lồ. Chỉ riêng chi phí để thiết lập vùng cấm bay trên cả Libya cũng đã có thể tiêu tốn đến 8 tỷ đô la Mỹ. Thế nhưng, nếu liên quân chỉ hạn chế cuộc tấn công bằng không quân và Gaddafi lại chấp nhận ngưng bắn thực sự thì tương lai của Libya cũng trở thành câu hỏi khó có lời giải đáp, bởi khi đó Libya sẽ tồn tại như thế nào. Ngay cả khi Gaddafi sụp đổ thì số phận của Libya cũng không có điều gì kỳ vọng vào một tương lai tươi sáng và cũng khó có nước nào mạo hiểm “tiếp quản” như đã nói.

Với tất cả những điều trên, cuộc chiến Libya đang là một bài toán khó giải đáp. Nhưng tất nhiên, lãnh đạo của các nước tham chiến, chắc chắn, không thể không nghĩ đến những tình huống vừa nêu. Cho nên, các nước tham chiến, nhất là Mỹ, Anh và Pháp, đã có những dự định nào đó mà họ chưa bộc lộ ra. Chính vì vậy, muốn có câu trả lời chính xác hơn về cuộc chiến ở Libya thì rất cần thêm thời gian để chờ và xem.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo KTSG 24.03.2011

 

CHÂU Á KHÔNG YÊN TĨNH

Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự (ảnh: Xinhua)

Sau khi hé mở về kế hoạch phát triển hàng không mẫu hạm, tên lửa chống hạm rồi chiến đấu cơ tàng hình, Trung Quốc vừa chính thức công bố tăng cường chi phí quân sự thêm 12,7% trong năm tới. Theo đó, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng từ mức 533,4 tỷ nhân dân tệ của năm 2010 lên thành 601,1 tỷ nhân dân tệ (tương đương 91,4 tỷ đô la Mỹ) vào năm 2011. Con số trên đã được phát ngôn viên của quốc hội Trung Quốc là Lý Triệu Tinh công bố ngay trước Quốc dân Đại hội thường niên của nước này. Năm ngoái, Trung Quốc cũng đã tăng ngân sách quân sự năm 2010 lên 7,5% so với năm 2009, dù ngân sách quân sự của Trung Quốc năm 2009 đã tăng gấp đôi so với thời điểm năm 2006.

Nhận xét về việc gia tăng ngân sách quân sự của Trung Quốc, bộ trưởng ngoại giao Nhật vừa từ chức mới đây là Seiji Maehara cho rằng chi tiêu quốc phòng như thế là “rất cao”. Quả thực, việc gia tăng liên tục ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, cùng với việc quân đội nước này đang là lực lượng quân sự hùng hậu nhất thế giới với quân số lên đến 2,3 triệu, đã khiến cho nhiều nước lo ngại là điều dễ hiểu. Từ sớm, các quốc gia khác đã thể hiện sự lo ngại của mình.

Tiêu biểu là Nhật Bản. Cuối năm ngoái, Nhật Bản cũng đã chính thức loan báo kế hoạch chi tiêu quân sự trị giá 279 tỷ đô la Mỹ trong thời gian năm năm. Bên cạnh đó, Nhật Bản đã bắt đầu tái phối trí lực lượng quân sự của mình, chuyển hướng mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên sang Trung Quốc. Một loạt các quốc gia khác trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Myanma, Philippine, Hàn Quốc và cả Úc cũng tiết lộ các kế hoạch tăng cường vũ trang cho quân đội.

Dường như, sự chuẩn bị của các quốc gia cũng không hoàn toàn khó hiểu khi những va chạm trong khu vực liên tục xảy ra gần đây.

Ngày 02.03.2011 vừa qua, Nhật Bản đã điều hai chiến đấu xua đuổi hai máy bay quân sự của Trung Quốc, khi hai máy bay quân sự Trung Quốc đang bay cách 33 dặm so với vùng đảo tranh chấp giữa hai bên, mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Phát ngôn viên chính phủ Nhật Yukio Edano cho rằng tuy Nhật Bản không phản đối chính thức vì hai máy bay quân sự Trung Quốc đã dừng lại ở không phận quốc tế, nhưng ông này đã lo ngại sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc. Mới hơn, vào ngày 07.03.2011, Nhật Bản đã chính thức lên tiếng phản đối về việc một máy bay trực thăng của Trung Quốc đã áp sát tàu chiến Nhật Bản trên biển Hoa Đông.

Trước đó, ngày 02.03.2011, Việt Nam cũng đã chính thức lên tiếng phản đối Trung Quốc tổ chức diễn tập chống cướp biển tại khu vực đảo Trường Sa, vốn được Việt Nam tuyên bố chủ quyền từ lâu. Cũng trong ngày 02.03.2011, Philippine cũng đã cử hai chiến đấu cơ đến bảo vệ tàu thăm dò dầu khí của mình vì cho rằng bị hai tàu tuần tra của Trung Quốc sách nhiễu. Ngày 07.03.2011, ấn bản Manila Times của Philippine cũng đã đăng bài chỉ trích hành động của Trung Quốc vào ngày 02.03.2011 và Philippine cũng cho biết đã mua một tàu tuần tra Hamilton loại lớn của Hoa Kỳ để bảo vệ vùng biển.

Trung Quốc cũng va chạm với cả Hàn Quốc. Ngày 04.03.2011, Hàn Quốc cũng đã chính thức loan báo rằng hải quân nước này đã bắt giữ hai tàu cá của Trung Quốc, bắn chết một thủy thủ vì hai tàu cá trên xâm nhập vùng biển Hàn Quốc và có hành vi sử dụng vũ khí để chống cự. Ngay sau đó, Hàn Quốc cũng công khai cả kế hoạch đẩy nhanh tiến độ mua máy bay do thám tối tân và chiến đấu cơ tàng hình của mình.

Với hàng loạt sự kiện diễn ra liên tục trong thời gian ngắn vừa qua đang khiến cho châu Á trở nên không yên tĩnh và cho thấy rằng nhiều bất đồng đang tiềm ẩn trong khu vực, nhất là các bất đồng về chủ quyền và lãnh thổ.

Ngô Minh Trí