BÌNH LUẬN VỘI VÃ

Vẫn tự nhủ sẽ đứng ngoài cuộc thị phi trên thế giới ảo. Tuy nhiên, đọc bài viết “Bà Clinton đã thất bại ra sao tại Bắc Kinh?” thì chẳng thể không nói. Tôi xin đi vào từng phần bài viết và đánh giá bằng những nhận định khách quan.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và người đồng cấp Indonesia Marty Natalegawa – Ảnh: Thanh Niên

Phần thứ nhất không có gì quan trọng vì đoạn này chỉ mang tính chất gợi mở để nói đến chuyến đi chẳng mấy thuận buồm xuôi gió của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.

Ai bị động?

Đoạn tiếp theo là: “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc!”. Trong phần này, hình như tác giả chỉ xét đến mỗi điểm đến Trung Quốc. Tuy nhiên, nước này chỉ là một trong 6 điểm đến trong chuyến công du của bà Clinton kéo dài từ ngày 30.8 – 9.9. Sáu điểm đến bao gồm: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Đông Timor, Brunei và Nga. Trong số này, Nga là điểm mà bà Clinton phải đến để dự APEC thay Tổng thống Mỹ Barack Obama bận chuyện tranh cử. Với 5 điểm còn lại thì hết 4 điểm đến nhằm mục tiêu bao vây Bắc Kinh.

Cụ thể, bà Clinton đến quần đảo Cook để dự Hội nghị thượng đỉnh Nam Thái Bình Dương nhằm đảm bảo ảnh hưởng tại đây, vốn là khu vực cửa ngõ nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Khi Washington giữ vững Nam Thái Bình Dương, Bắc Kinh khó có cơ hội đặt căn cứ chuyển tiếp tại đây để vươn ra Ấn Độ Dương, tạo ảnh hưởng ngược lên Trung Đông và Địa Trung Hải.

Điểm đến thứ hai là Indonesia. Giới phân tích đều hiểu rằng Indonesia đang muốn nhấn mạnh vai trò tại ASEAN nên vừa qua rất năng nổ trong việc giải quyết bất đồng tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Sau đó, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa ngược xuôi để ra được tuyên bố 6 điểm về biển Đông. Vì thế, Washington đang ra sức gia cố quan hệ với Jakarta để tranh thủ ảnh hưởng. Giữa tháng 8, không chỉ đẩy nhanh kế hoạch tài trợ chiến đấu cơ F-16 cho Indonesia, Washington còn tuyên bố sẵn sàng cung cấp thêm loại máy bay này cho Jakarta. Trước chuyến đi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland tuyên bố với báo giới một cách rõ ràng rằng: biển Đông là một trong những nghị trình quan trọng chính yếu của đợt công du. Trong chuyến công du trên, khi máy bay đang lơ lửng giữa không trung để đến Indonesia – điểm đến thứ hai, bà Clinton đã đưa đi thông điệp rõ ràng về biển Đông. AFP dẫn lời bà tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng các nước trong khu vực nên cộng tác cùng nhau để giải quyết tranh chấp mà không hề bị ép buộc, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định nước này có “lợi ích quốc gia” trong việc đảm bảo hòa bình và ổn định trên biển Đông. Đây là thông điệp rất rõ ràng cho Trung Quốc, điểm đến thứ ba. Lời tuyên bố như thế là quá rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với biển Đông.

Chưa vội bàn việc bà Clinton đến Trung Quốc. Hai điểm đến tiếp theo là Brunei và Đông Timor. Với Brunei, đây sẽ là nước giữ ghế chủ tịch ASEAN vào năm sau. Vì thế, người ta có quyền xem chuyến thăm đến Brunei là nỗ lực của Mỹ nhằm vận động hành lang, tránh để lặp lại sự cố Campuchia như vừa qua. Cuối cùng, Đông Timor, một nước khá thân cận với Indonesia và cũng là thành viên sắp tới của ASEAN. Việc tranh thủ Đông Timor cũng là cách để Mỹ cạnh tranh nhằm có thêm sự ảnh hưởng tại ASEAN.

Với một nội dung công du như thế, chắc chắn, Washington từ sớm chẳng kỳ vọng bà Clinton sẽ được đón tiếp nồng ấm tại Bắc Kinh. Sự lạnh nhạt của Trung Quốc là dễ hiểu. Đồng thời, đó là sự lạnh nhạt thụ động khi Mỹ đi “ngoại giao” nhưng từ sớm thể hiện rõ thái độ “bao vây”.

Cũng chính vì vậy, việc Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tỏ ra cứng rắn cũng là điều dễ hiểu. Có lẽ, với những bộ não đầy sạn tại Washington thì họ cũng đã dự tính trước kịch bản trên. Vì thế, chẳng có bẫy nào ở đây để Ngoại trưởng Clinton “sập” đến mức “Bó tay trước Bộ trưởng Trung Quốc” như bài viết của tác giả Danh Đức đề cập.

Phần tiếp theo của bài viết là: “Phục hận năm xưa”. Theo những gì vừa đề cập, Bắc Kinh đang phản ứng thụ động chứ chẳng phải “phục hận” bằng một chiếc bẫy giăng từ sớm. Trong phần này, tác giả còn cho rằng “chỉ hai giờ trước khi bà Clinton rời Bắc Kinh, loan báo tin truy tố Vương Lập Quân, nguyên giám đốc Công an Trùng Khánh, từng tìm cách xin tị nạn trong Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô vào tháng 2 vừa qua”. Thực tế, việc loan tin (không chính thức) thời điểm xét xử ông Vương đã có từ hồi cuối tháng 8. Mãi đến ngày 14.9, tòa án TP. Thành Đô, Trung Quốc, mới chính thức đưa tin xét xử ông Vương vào ngày 18.9. Vì thế, dựa vào tình tiết trên để bình luận thì hơi võ đoán. Ngoài ra, tác giả quên rằng, một đại diện của Bắc Kinh vào Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô để “đón” Vương Lập Quân đi về. Điều đó được xem là một trong những bằng chứng cho thấy ông Vương thực sự không có nhiều giá trị để Mỹ phải giữ lại.

Nhập nhằng nợ nần

Tiếp đến, trong phần: “Nợ vay khó trả”, tác giả dùng việc TQ đang là chủ nợ lớn của Mỹ để chứng minh Washington lệ thuộc Bắc Kinh. Nợ công của Mỹ đang là 16.000 tỉ USD nhưng tín nhiệm tín dụng nước này khác xa các quốc gia Nam Âu. Khi cần, Mỹ thừa sức huy động thêm tiền ngàn tỉ để trả TQ.

Tuy nhiên, thực tế Bắc Kinh khó dùng chuyện nợ để uy hiếp Washington vì đó cũng là cái giá mà TQ đang trả vì tăng trưởng kinh tế lệ thuộc vào xuất khẩu. Dân TQ còng lưng làm để dân Mỹ ra sức xài, Bắc Kinh nhận về đống giấy nợ vô tri vô giác. Dự trữ ngoại tệ nhiều nhưng dự trữ vàng, tính ổn định cao hơn, đang là thách thức của TQ. Vàng vẫn là thứ bảo chứng hữu hiệu hơn đống giấy nợ kia. Có thời gian, sẽ phân tích kỹ hơn về quá trình Mỹ bảo chứng USD bằng vàng với tỉ giá cố định 35 USD cho 1 ounce vàng. Phân tích chuyện này mới thấy Mỹ ăn dày và chắc như thế nào trong suốt gần 30 năm từ thập niên 1940 đến 1970.

Philippines hết cần Mỹ?

Phần cuối cùng, tác giả đặt câu hỏi: “Quan hệ Mỹ – Philippines có xuống cấp?”. Tác giả Danh Đức sử dụng sự kiện Philippines mua Airbus mà không mua Boeing để góp phần định hướng câu trả lời. Thực tế cho thấy, một hợp đồng trị giá 7 tỉ USD thì chắc chắn phải được bàn thảo từ rất lâu, trong khi Trung Quốc – Philippines chỉ mới căng thẳng quá mức từ sau vụ đụng độ ở bãi cạn Scarborough vào ngày 10.4. Ngoài ra, cũng cần xét đến yếu tố khách quan là hợp đồng trên của hãng hàng không thương mại nên phụ thuộc vào loại máy bay mà họ chọn lựa thì Airbus hay Boeing mạnh hơn. Mỹ chẳng thể ngang ngược đến mức ép buộc đối tác phải mua hàng ngay cả khi không phù hợp.

Tiếp theo, tác giả bình luận về việc tàu tuần duyên BRP Gregorio del Pilar. Ở đây, không rõ là tác giả viếc sai hay vì lỗi biên tập, chiếc tàu trên là tàu “tuần duyên” không phải “tuần dương” như bài viết đề cập. Hai loại tàu này rất khác nhau về qui mô. Tác giả cũng cho rằng vì không được Mỹ đưa cho tàu xịn nên Philippines chuyển qua cầu viện Nhật Bản và được viện trợ 12 tàu tuần tra (cỡ nhỏ). Thực tế, Nhật Bản chưa chính thức công bố  sẽ cung cấp loại tàu đến mức độ nào và ưu đãi ra sao. Ngoài ra, Tokyo và Manila đã thảo luận việc viện trợ trên từ lâu, chỉ là công bố rộng rãi trong một thời điểm nhạy cảm. Từ năm 1990, Nhật Bản đã bắt đầu chương trình hỗ trợ hiện đại hóa Lực lượng tuần duyên Philippines. Đây cũng là một phần trong nỗ lực của Tokyo nhằm thắt chặt quan hệ tại Đông Nam Á. Ngoài ra, trong tình thế hiện tại, Philippines chẳng có lý do gì để từ chối những viện trợ như thế. Vì thế, sẽ rất gượng ép khi đánh giá động thái nhận viện trợ đã chứng minh quan hệ Washington – Philippines xuống cấp. Ngoài ra, tác giả cho rằng “Bực dọc, Philippines gõ cửa chỗ khác tự mua cũng chính các khẩu phòng không hai nòng tác xạ tự động Mk.38 để cho tàu của mình đừng trở thành “bia bắn””. Là một người từng có nhiều bài viết về quân sự, tác giả Danh Đức thừa hiểu rằng khẩu MK.38 chẳng giúp gia tăng thêm sức mạnh đáng kể cho tàu chiến. Đồng thời, tác giả cũng bỏ qua chi tiết Bộ Quốc phòng Philippines ngày 10.9 tuyên bố sẽ lắp tên lửa đối hải Harpoon cho tàu chiến BRP Gregorio del Pilar. Harpoon là tên lửa trứ danh của Mỹ chuyên chống tàu chiến. Không cần bàn thêm cũng hiểu việc trang bị loại hỏa tiễn này sẽ tăng thực lực thế nào cho tàu chiến Philippines. Đó là chưa nói đến việc tàu chiến Mỹ liên tục cập cảng Philippines trong thời gian qua. Diễn biến này là những động thái có tác động lớn về chính trị lẫn ngoại giao.

Xin kết thúc tại đây và bỏ qua việc đánh giá  quan điểm cá nhân của bài viết.

Ngô Minh Trí

KHI CHÍNH QUYỀN LÀM SAI

Mới đây, chủ tịch UBND 8 tỉnh: Bình Định, Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thanh Hóa, đã bị Thủ tướng yêu cầu kiểm điểm vì các sai phạm trong báo cáo thiệt hại thiên tai, chậm phân bổ nguồn ngân sách cứu trợ…

Mặc dù, sai phạm có khác nhau nhưng tựu trung đều xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm.

Trong đó, các tỉnh Bình Định, QuảngNamvà Quảng Ngãi báo cáo tăng gần 10 lần so với thực tế về số nhà bị hư hỏng trong 2 cơn bão số 9 và số 11 (năm 2009), từ 18.718 nhà thành 185.916 nhà. Tương tự, Lai Châu và Thanh Hóa báo cáo thiệt hại, đề nghị kinh phí hỗ trợ nhiều hơn 5 lần so với thực tế. Các sai phạm trên chứng minh rõ ràng về sự thiếu trách nhiệm của chính quyền các tỉnh. Có thể, những con số trên do các cấp địa phương huyện, xã báo cáo lên. Tuy nhiên, nếu lãnh đạo tỉnh vẫn chấp nhận thì điều đó cho thấy họ không hề sâu sát địa phương.

Không chỉ báo cáo tăng thêm quá đáng so với thực tế, các tỉnh còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm khi phân bổ chậm trễ các khoản hỗ trợ. Điển hình như Phú Yên vẫn còn dư 8,6 tỉ đồng tính đến tháng 9.2010. Với nhiều hộ nông dân nghèo gặp thiên tai, họ rất trông chờ vào những khoản hỗ trợ để sửa lại nhà cửa, mua thực phẩm, giống cây, phân bón nhằm nhanh chóng vượt qua khó khăn. Làm một phép tính nhẩm, người ta có thể dễ dàng nhận ra những khoản tiền hàng tỉ đồng chậm phân bổ kia lẽ ra có thể giúp được hàng ngàn hộ gia đình vượt qua khó khăn sau thiên tai. Nghiêm trọng hơn, Bình Định, Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, QuảngNam, Quảng Ngãi còn phân bổ sai mục đích, đối tượng đến 115 tỉ đồng.

Những thực tế đó rất dễ khiến người dân mất niềm tin vào chính quyền địa phương. Xa hơn, về sau, trung ương cũng có quyền nghi ngờ những báo cáo từ địa phương. Về lâu dài, sự nghi ngờ này khiến những chương trình cứu trợ khác có thể bị chậm trễ vì trung ương cần phải xác minh, thẩm định kỹ lưỡng hơn. Khi đó, người dân lại là đối tượng gánh chịu hệ lụy mất niềm tin do chính quyền địa phương tạo ra. Hệ lụy vạ lây mà người dân gánh chịu không dừng lại ở đó. Sáu trong số tám tỉnh thành ở trên thuộc “khúc ruột miền Trung” mà hằng năm vẫn chịu nhiều thiên tai. Mỗi lần thiên tai, trước những báo cáo thiệt hại nặng nề, các nhà hảo tâm, người dân ở địa phương khác lại nhiệt tình đóng góp, nhiều người còn tình nguyện đến giúp đỡ. Vì thế, sau sự việc lần này, họ có thể trở nên nghi ngờ hơn đối với những báo cáo thiệt hại trong mỗi lần thiên tai. Những tấm lòng hảo tâm, nhiệt huyết có thể bị tổn thương.

Trước những hệ quả như thế, chúng ta cần tăng cường công khai, thường xuyên cập nhật các báo cáo và việc phân bổ các nguồn ngân sách hỗ trợ cho người dân được biết. Việc này càng được thực hiện đến từng địa phương để người dân các tỉnh, các huyện sẽ tham gia giám sát. Khi đó, những sai phạm của lãnh đạo địa phương sẽ hạn chế bị lặp lại.

Ngô Minh Tríbáo Thanh Niên ngày 4.3.2012

ARROYO, THỜI VANG BÓNG CÒN ĐÂU

Bà Arroyo bị ngăn không cho sang Singapore ngày 15.11 - Ảnh: AFP

Từng là một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế giới nhưng cựu Tổng thống Philippines Arroyo đang nằm trên giường bệnh với sự canh gác của cảnh sát.

AFP dẫn lời giới chức cảnh sátPhilippinescho biết đã lấy dấu vân tay của cựu Tổng thống Gloria Arroyo ngày 19.11 khi bà đang mặc chiếc áo dành cho bệnh nhân. Theo các thông tin từ người thân và nhân viên bệnh viện ở thủ đô Manila thì bà Arroyo đang sụt cân, huyết áp tăng cao, ăn không ngon miệng và tiêu chảy.

Cảnh sát bắt cựu Tổng thống ngày 18.11 sau khi nhà chức trách ngăn không cho bà sangSingaporechữa một chứng bệnh hiếm về xương. Chính quyền của Tổng thống Benigno Aquino III cho rằng việc đi chữa bệnh chỉ là cái cớ để bà Arroyo bỏ trốn trước nhiều cáo buộc tham nhũng, lạm quyền và gian lận bầu cử. Cựu tổng thống 64 tuổi có thể lãnh án chung thân nếu bị phán quyết có tội.

Trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình ABS-CBN ngày 20.11, một luật sư của gia đình Arroyo cho rằng bà bị “ngược đãi” và sẽ không được xét xử công bằng. Vị luật sư này cũng bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Aquino III rằng chính quyền đảm bảo thực hiện đúng các quy trình tố tụng và tôn trọng các quyền của bà Arroyo. Đây được xem là diễn biến bước ngoặt trong cuộc chiến đưa người tiền nhiệm ra tòa của Tổng thống Aquino III. Ngay khi đắc cử tổng thống vào năm ngoái, ông Aquino III đã tuyên bố sẽ làm trong sạch đất nước và bắt đầu từ những cáo buộc dành cho bà Arroyo. Khi bị bắt, bà đang là dân biểu và người phát ngôn Hạ viện Feliciano Belmonte Jr vừa tuyên bố bà vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi của một nghị sĩ.

Lẫy lừng và tai tiếng

Cuộc bầu cử năm 1998 đã đưa bà Arroyo vào vị trí Phó tổng thốngPhilippines, đứng sau ông Joseph Estrada. Đến đầu năm 2001, bà thực hiện cuộc chính biến hạ bệ Tổng thống Estrada với các cáo buộc ông này tham nhũng và chính thức bước vào vị trí lãnh đạoPhilippines. Bà Arroyo lại tiếp tục giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 để bắt đầu nhiệm kỳ mới kéo dài 6 năm. Đến năm 2005, bà được Tạp chí Forbes chọn vào vị trí thứ 4 trong danh sách những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới.

Trong suốt giai đoạn cầm quyền, bà Arroyo đối mặt với không ít cáo buộc nhưng đều “tai qua nạn khỏi” và còn vượt qua một số âm mưu đảo chính quân sự. Một trong những cáo buộc gây chấn động nhất là bà Arroyo đã lạm quyền và gian lận trong cuộc bầu cử thượng viện năm 2007 để giúp các đồng minh thân cận. Trong số đó, có gia tộc đầy quyền lực Ampatuan, vốn bị cáo buộc chỉ đạo giết hại 57 người trong vụ thảm sát đối thủ chính trị hồi cuối năm 2009.

Bên cạnh đó, nữ cựu tổng thống còn bị tố cáo tham nhũng khi hưởng lợi từ các hợp đồng với nước ngoài và sử dụng ngân sách nhà nước cho chiến dịch tranh cử. Đặc biệt, đoạn băng ghi âm xuất hiện năm 2005, ghi lại cuộc nói chuyện giữa bà Arroyo và một quan chức về việc đảm bảo số phiếu bầu dành cho bà trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004. Khi đó, bà đã xin lỗi nhưng khẳng định mình không làm gì sai và vụ việc mau chóng “chìm xuồng”.

Nhiều năm qua, hồ sơ về các cáo buộc trên vẫn nằm trong ngăn kéo của Bộ Tư phápPhilippines. Từ sớm, bà Arroyo cũng đã bổ nhiệm nhiều người thân cận vào chức vụ thẩm phán tòa án tối cao và chạy đua thành công vào Hạ viện năm 2010 nhằm đảm bảo sự ảnh hưởng trên chính trường và giữ an toàn sau khi hết nhiệm kỳ tổng thống. Tuy nhiên, những động thái trên vẫn không thể giúp bà Arroyo thoát khỏi bị xét xử. Cảnh bà tiều tụy ngồi trên xe lăn khi bị chặn tại sân bay ngày 15.11 vẫn khiến nhiều người ngậm ngùi khi nó quá đối lập với hình ảnh một nữ tổng thống rực rỡ và quyền lực ngày nào.

Ngô Minh Trí (Thanh Niên ngày 21.11.2011)

Bà Gloria Macapagal-Arroyo, sinh ngày 5.4.1947, tạiSan Juan,Philippinesvà là con gái của ông Diosdado Macapagal, tổng thống thứ 9 của nước này. Bà từng nhận học vị tiến sĩ và là giáo sư kinh tế tại Đại học Ateneo de Manila ởPhilippines. Theo một số nguồn tin, đương kim Tổng thống Aquino III từng là sinh viên của bà ở Ateneo de Manila.

Năm 1987, bà Arroyo chuyển qua làm việc ở Bộ Công thương và đắc cử thượng nghị sĩ vào năm 1992. Đến năm 1998, bà trở thành phó tổng thống rồi nắm giữ vị trí nguyên thủPhilippinesnăm 2001.

Năm 1968, bà lấy ông Jose Miguel Tuason Arroyo, sinh năm 1946, và hai người có 3 người con.

THAM VỌNG NATO 3.0

Phiên bản 3.0 của NATO dường như nhấn mạnh việc vươn tầm ảnh hưởng sang Đông và Đông Nam Á – Ảnh: AFP

Liên minh quân sự NATO, với sự tham vấn của Mỹ, ra sức phát triển trên toàn cầu, bao gồm cả việc tăng cường hiện diện ở Đông Nam Á.

Ngày 7.11, trang Global Research của Trung tâm nghiên cứu toàn cầu hóa tạiCanadađã đăng tải bài viết của chuyên gia Rick Rozoff nhận định về tham vọng của NATO tại Đông Nam Á. Rick Rozoff là chuyên gia quân sự đặc biệt am hiểu về các hoạt động của NATO.

NATO toàn cầu

Nhiều năm qua, Mỹ luôn ủng hộ chính sách NATO mở rộng ra toàn cầu chứ không gói gọn trong khu vực Bắc Đại Tây Dương. Số lượng thành viên chính thức đã tăng từ 16 lên thành 28 trong 10 năm kể từ 1999. Hiện tại, NATO có hơn 40 đối tác trên khắp 4 châu lục bên ngoài châu Âu – Đại Tây Dương dưới sự bảo trợ của các chương trình như: Đối thoại hòa bình Á – Âu, Đối thoại Địa Trung Hải ở châu Phi và Trung Đông, Sáng kiến hợp tác Istanbul ở vịnh Ba Tư. NATO cũng có một loạt quan hệ mở rộng với các quốc gia ở nhiều khu vực khác nhau: châu Á – Thái Bình Dương (Úc, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc), Chương trình quốc gia thường niên với Georgia và Ukraine.

Hồi tháng 9, Ivo Daalder, Đại diện thường trực Mỹ tại NATO, nói với các phóng viên Ấn Độ rằng: “Có một cuộc đối thoại sâu sắc với Ấn Độ là rất quan trọng”. Đại diện thường trực Mỹ tại NATO cũng thẳng thắn cho rằng Ấn Độ, thành viên sáng lập của Phong trào không liên kết gồm 120 nước, nên từ bỏ chính sách trung lập. Ông Daalder còn kêu gọiNew Delhihợp tác với Mỹ và NATO phát triển hệ thống tên lửa đánh chặn quốc tế. Bên cạnh đó, Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen vào tháng 9 đã nói với Tân Hoa xã rằng: “Tôi rất muốn thấy một sự tăng cường đối thoại giữa Trung Quốc và NATO”. Hồi tháng 10 năm ngoái, ông Rasmussen cũng từng khẳng định NATO nên tiếp cận với các đối tác mới, bao gồm cả Bắc Kinh vàNew Delhi. Mặt khác, Daalder từ lâu cũng thúc giục NATO phát triển quan hệ đối tác với một nhóm các quốc gia bao gồm: Úc, Botswana, Brazil, Colombia, Costa Rica, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, New Zealand, Nam Phi và Hàn Quốc.

Ông Daalder từng tuyên bố: “Chúng tôi đang tung ra NATO phiên bản 3.0”.

Tiến về Đông Nam Á

Trong phiên bản NATO 3.0, tổ chức này cũng muốn tích cực đẩy mạnh quan hệ với các nước Đông Nam Á. Tháng 5.2010, Hội đồng Đại Tây Dương của Mỹ là nhóm vận động chính cho NATO đã đưa ra học thuyết “Xây dựng một NATO Đông Á” được viết bởi chuyên gia quân sự Max Boot. Học thuyết này cho rằng mặc dùWashingtoncó quan hệ quân sự mật thiết với nhiều nước Đông Á nhưng khu vực này lại chưa hình thành một cấu trúc an ninh như NATO. Cho nên, Mỹ cần sớm tham gia hình thành một liên minh giống NATO tại Đông Á và kết hợp cùng NATO.

Mỹ đang ráo riết vận động để NATO đạt được mục tiêu tăng cường quan hệ với các nước thuộc khu vực trên. Hồi tháng 10, Bộ trưởng Quốc phòng MỹLeonPanetta tham gia cuộc họp chính thức của bộ trưởng quốc phòng 10 nước ASEAN diễn ra tạiIndonesia. Ông Panetta đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Purnomo Yusgiantoro để “phát triển quan hệ song phương và thảo luận các vấn đề lớn hơn đối với khu vực Đông Nam Á”.

Cũng trong tháng 10, Robert Scher, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách khu vực Nam Á và Đông Nam Á, cũng có chuyến thăm 2 ngày đến Campuchia. Hai năm qua, Mỹ dẫn đầu cuộc tập trận đa quốc gia có tên Angkor Sentinel diễn ra tại Campuchia. Vì thế, chuyến thăm còn là để thắt chặt quan hệ quân sự giữa Mỹ với Campuchia, nước sẽ đảm nhiệm cương vị chủ tịch ASEAN vào năm sau. Thời gian qua, Mỹ liên tục nhấn mạnh sẽ tiếp tục hiện diện tại châu Á và đặc biệt đẩy mạnh chiến lược quân sự ở Đông Nam Á. Đầu năm nay, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ Geoff Morrell nói với các phóng viên rằng nước này có 28.500 quân ở Hàn Quốc và 50.000 binh sĩ tại Nhật Bản là một lực lượng đáng kể. Trong dài hạn, Geoff Morrell cho biết thêm Mỹ không nhất thiết sẽ đồn trú quân đội tại Hàn Quốc hay Nhật mà có thể triển khai dọc vành đai Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Nam Á.

Ngô Minh Trí (đăng trên Thanh Niên ngày 12.11.2011)

Mỹ nói châu Á cần một cấu trúc mới

Mối quan hệ Mỹ – Trung vẫn rất phức tạp và khó lường – Ảnh: AFP

Washingtonnhấn mạnh châu Á cần có một cấu trúc mới tương xứng với sự phát triển. 

Tại hội nghị quốc gia thường niên do Ủy ban các vấn đề quốc tế của Mỹ tổ chức ngày 4.11, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William J.Burns đã phát biểu về chiến lược thế kỷ mới củaWashington. Website Bộ Ngoại giao nước này đăng lại toàn văn bài phát biểu trên. Nhắc đến bài Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ của Ngoại trưởng Hillary Clinton đăng trên tạp chí Foreign Policy hồi tháng trước, ông Burns khẳng định châu Á có vai trò trung tâm đối với chính trị toàn cầu.

Thứ trưởng Burns nhấn mạnh: “Sự trỗi dậy của châu Á không chỉ là các nền kinh tế hay những thành phố phát triển mạnh mẽ, mà còn vẽ lại bản đồ địa chiến lược của khu vực”. Ví dụ cho nhận định trên, ông Burns nói biển Đông hiện đóng vai trò quan trọng hơn, bao hàm quyền lợi chung đối với quốc tế, trong giao thương hàng hải. Vì thế, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ cho rằng: “Chúng ta cần phát triển cấu trúc ngoại giao, kinh tế và an ninh theo kịp sự thay đổi sâu sắc của châu Á… Sự lãnh đạo của Mỹ trong việc thực hiện cấu trúc trên sẽ đem lại lợi ích về sau cho đất nước và giúp châu Á khai thác được tiềm năng trọn vẹn”. Thứ trưởng Burns nói điều đó giống như việc Mỹ đã xây dựng một mạng lưới quan hệ toàn diện và lâu dài giữa hai bờ Đại Tây Dương. Như vậy, Mỹ sẽ tham gia vào sự trỗi dậy của châu Á để tạo tiền đề cho những lợi ích về sau, điều mà nước này từng làm đối với châu Âu vào thế kỷ trước. Tháng này, Tổng thống Barack Obama sẽ mở màn cho các hoạt động của Mỹ tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á.

Thứ trưởng Burns cũng khẳng định tiếp tục phát triển những quan hệ chiến lược sẵn có, trong đó liên minh với Nhật đóng vai trò sống còn. Washington cũng đang đẩy mạnh xây dựng liên kết với Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Singapore, New Zealand, Mông Cổ và Brunei. Trong đó, Mỹ mong muốn kết hợp cùng Ấn Độ để tăng cường sự tham dự tại châu Á. Ông Burns nói Washington đang phát động hình thành nhóm tham vấn 3 bên Mỹ – Ấn – Nhật trong các vấn đề của châu Á. Thứ trưởng Burns còn cho biết Washington sẵn sàng có mối quan hệ tốt với Bắc Kinh và châu Á “đủ lớn” cho Mỹ, Ấn Độ lẫn Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Burns cũng khẳng định mối quan hệ Mỹ – Trung rất phức tạp, khó lường trước hai bên sẽ xung đột hay hợp tác. Thứ trưởng Burns từng cảnh báo điều vừa nói trong Hội nghị quan hệ Mỹ – Trung diễn ra vào ngày 24.10 tạiTexas.

 Ngô Minh Trí (Thanh Niên 07.11.2011)

CÁI BÓNG IRAN Ở VÙNG VỊNH

Mỹ đang rất lo lắng trước ảnh hưởng đang ngày càng lớn của Iran tại Iraq nhất là khi nước này đang chuẩn bị rút hết quân vào ngày 31.12.

Báo mạng The Huffington Post vừa đăng bài bình luận mới nhất của Haggai Carmon, chuyên gia quan hệ quốc tế và có nhiều năm làm việc tại Trung Đông, về tương lai Iraq sau khi Mỹ rút quân. Theo ông Carmon, có thể tạm chia cục diện chính trị, an ninh ởIraqtrong tương lai thành 3 khu vực. Đầu tiên là khu vực phía nam tập trung phần đông người Hồi giáo Shiite, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từIran. Người Kurd chiếm hầu hết phía bắc có thể đẩy mạnh đấu tranh để thành lập quốc gia riêng. Phần cuối cùng củaIraqlà khu vực xung quanh thủ đôBaghdad, nơi đa số dân chúng theo Hồi giáo Sunni.

Hai khu vực phía bắc và nam là những mảnh đất màu mỡ với trữ lượng dầu mỏ khổng lồ. Ngược lại, khu vực xung quanhBaghdadcủa người Sunni lại chẳng có tài nguyên gì trong khi phải nuôi 10 triệu miệng ăn. Theo kịch bản trên, Iran có lợi nhất khi dễ dàng chi phối khu vực phía nam Iraq rộng lớn, nhiều dầu mỏ mà không gặp phải khó khăn đáng kể, đồng thời đang ra sức phối hợp với Thổ Nhĩ Kỳ kiềm chế người Kurd ở phía bắc Iraq.

Chuyên gia uy tín về Trung Đông Alireza Jafarzadeh cũng bình luận trên The Huffington Post rằng Mỹ rút quân khỏiIraqlà mở cửa choIranvào nước này. Minh họa cho nhận định trên, ông Jafarzadeh dẫn lời của Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad nói Tehran sẽ lấp đầy khoảng trống quyền lực ở Iraq thời hậu Mỹ. Ông Ahmadinejad cũng khẳng định ảnh hưởng của Tehran đối với nước láng giềng: “Chúng tôi có quan hệ rất tốt với cả chính phủ lẫn quốc hội Iraq”.

Dằn mặt tướng Mỹ

Từ lâu,Iranđã không ngần ngại thể hiện cho Mỹ thấy ảnh hưởng của mình tạiIraq. Theo The Guardian, đương kim Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) David Petraeus từng bị “dằn mặt” bởi thiếu tướng Qassem Suleimani, người đứng đầu lực lượng đặc nhiệm Quds khét tiếng của Iran. Năm 2008, khi đang là Tổng tư lệnh lực lượng đa quốc gia tại Iraq, tướng Petraeus được giới lãnh đạo cấp cao của nước này chuyển một tin nhắn điện thoại di động được cho là do ông Suleimani gửi. Nội dung tin nhắn như sau: “Tướng Petraeus, ông nên biết rằng tôi, Qassem Suleimani, là người điều khiển chính sách củaIranđối vớiIraq, Li Băng, Dải Gaza vàAfghanistan”. Tin nhắn còn nói thẳng: “Đại sứIrantạiBaghdadlà thành viên của Quds và bất cứ ai thay thế ông ấy đều thuộc Quds”.

Các chuyên gia cho rằng tướng Suleimani không hề phóng đại về quyền lực và tầm ảnh hưởng của ông. Thông qua các nhà lập pháp Iraq, vốn đa số là tín đồ Hồi giáo Shiite, Suleimani gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên nội bộ Iraq và thường xuyên gặp gỡ giới lãnh đạo nước này. Năm 2006, vị tướng này từng vào vùng Xanh, khu vực thuộcBaghdadđược Mỹ canh phòng cẩn mật nhất, mà không cần đem theo vệ sĩ. Thậm chí Mỹ chỉ biết chuyện này sau khi ông đã đi khỏi, theo The Guardian. Mowaffak al-Rubaie, cựu Bộ trưởng An ninh quốc giaIraq, nhận xét tướng Suleimani “là người quyền lực nhấtIraq” và can dự vào mọi vấn đề của nước này. Ngoài ra, ông Suleimani còn có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trong khu vực, chẳng hạn nhưSyria.

Tướng Suleimani trong nhiều năm qua đã từng bước giành được quyền lực rất lớn ởIranvà là người quyết định đường hướng ngoại giao của nước này đối vớiIraq. Reuters dẫn lời Karim Sadjadpour, chuyên gia về chính sách đối ngoại tại Washington, cũng nói: “Qassem Suleimani là nhân vật quyền lực số 2 tại Iran, chỉ sau Đại giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei và thậm chí hơn cả Tổng thống Mahmoud Amedinejad”. Theo đó, Đại giáo chủ Khamenei và ông Suleimani có thể đã trực tiếp cho phép thực hiện các kế hoạch mà Tổng thống Ahmadinejad không hề biết.

Các nước mà Mỹ muốn hình thành “cấu trúc an ninh” - Đồ họa: Du Sơn

Ngoài ra, Reuters dẫn lời 3 quan chức giấu tên của Mỹ nhận địnhWashingtonđang lo ngại việc lực lượng Quds, do ông Suleimani lãnh đạo, đang đẩy mạnh hoạt động trên khắp thế giới. Quds là đơn vị “hạt nhân” của Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáoIran, chuyên hỗ trợ các phong trào cách mạng Hồi giáo trên thế giới, đặc biệt tạiIraq. Hồi tháng trước, lực lượng này cũng bị Mỹ cáo buộc đứng sau âm mưu ám sát Đại sứ Ả Rập Xê Út tạiWashington.

Gọng kìm của Washington

Tất nhiên,Washingtonkhông im lặng nhìnTehrandiễu võ dương oai. Ngoại trưởng Hillary Clinton cảnh báoIranđừng nghĩ rằng Mỹ sẽ không còn ảnh hưởng sau khi rút quân khỏiIraq. Trả lời phỏng vấn của CNN, bàClintoncho biết Mỹ sẽ tăng cường hiện diện quân sự ở những nơi lân cận thay cho các căn cứ tạiIraq.

Ngoại trưởng Mỹ nói: “Chúng tôi có đồng minh NATO ở Thổ Nhĩ Kỳ cùng với nhiều sự hiện diện trong khu vực. Các nước, đặc biệt làIran, đừng nên tính toán sai lầm về cam kết của chúng tôi trong việc đưaIraqtiến về phía trước”. AFP cũng dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cảnh báoIrankhông nên can thiệp vàoIraqsau khi lính Mỹ rời khỏi đây và nhấn mạnh rằng nước này sẽ tiếp tục duy trì sức mạnh tại Trung Đông.

Theo tờ The New York Times, chính quyền của Tổng thống Barack Obama đang lên kế hoạch phân bổ lại sức mạnh ở vùng Vịnh, nhằm tạo ra một thế trận kiềm chế Iran. Mỹ đang có 40.000 quân trong khu vực, bao gồm 23.000 binh sĩ đang đồn trú tạiKuwait. Trong quá khứ, khoảng thời gian giữa 2 cuộc chiến tranh Iraq năm 1991 và 2003, Mỹ đã đồn trú tại Kuwait từ 1 tiểu đoàn đến 1 lữ đoàn chiến đấu, đồng thời thiết lập 1 kho vũ khí khổng lồ tại nước này, đủ sức vũ trang cho một lực lượng lớn.

Sắp khi rút quân khỏiIraq, Lầu Năm Góc dự định sẽ bổ sung thêm các lực lượng tạiKuwaitvà điều thêm một số tàu chiến đến nước này để phòng ngừa chính quyềnIraqmất khả năng kiểm soát hoặc Mỹ xung đột vũ trang vớiIran.

Ngoài ra, Mỹ sẽ nỗ lực mở rộng quan hệ quân sự với 6 thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh là Ả Rập Xê Út, Kuwait, Bahrain, Qatar, UAE và Oman. Sẵn có mối quan hệ quân sự song phương chặt chẽ với các nước này, Mỹ muốn xây dựng một “cấu trúc an ninh” mới gồm không quân, hải quân và hệ thống phòng thủ tên lửa ở vùng Vịnh.

Ngô Minh Trí (Thanh Niên 06.11.2011)

 

Các kịch bản tấn côngIran

Mấy ngày qua rộ lên nhiều đồn đoán rằng Mỹ vàIsraelđang lên kế hoạch tấn côngIranvới sự hỗ trợ của Anh, theo tờ The Guardian ngày 3.11. Tờ báo dẫn lời các chuyên gia đánh giáIranđang ở trong tình trạng giốngIraqvào năm 2003. Mỹ có thể sử dụng báo cáo về vấn đề hạt nhânIrando Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đưa ra vào tuần tới, làm căn cứ “trừng phạt” nước CH Hồi giáo.

Giới chuyên gia nhận định nếu thật sự có chuyện tấn công thì Mỹ sẽ sử dụng không quân làm chủ đạo để phá hủy các cơ sở hạt nhân bí mật củaIran. Kịch bản tấn công quen thuộc nhất sẽ là phong tỏa bầu trờiIranvà bắn phá nước này bằng tên lửa cùng máy bay không người lái. Bên cạnh đó,Washingtoncũng có thể sử dụng các lực lượng đặc nhiệm để thực thi những sứ mệnh trên bộ, nhưng biện pháp này chỉ được sử dụng một cách hạn chế. Giới quan sát cũng cho rằng sẽ không có chiến tranh tổng lực vì đó sẽ là một quyết định liều lĩnh của Mỹ.

Tuy nhiên, khả năng Mỹ tấn côngIrankhông cao bằng hành động gây chiến bắt nguồn từIsrael. Ngày 4.11, CNN dẫn nguồn tin từ quan chức quân sự cấp cao giấu tên của Mỹ nói nước này đang lo ngạiIsraelsẽ ra tay. Quân đội và tình báo Mỹ đang theo dõi chặt chẽ các động thái của cảIsraellẫnIran. Cũng đang có nhiều tin đồn rằng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barack đang cố thuyết phục nội các đồng ý phương thức tấn công phủ đầu. Theo giới quan sát,Israelcó thể sử dụng máy bay chiến đấu và tên lửa đạn đạoJerichođể tấn côngIran. Tuy nhiên, việc sử dụng máy bay bị đánh giá là rất mạo hiểm vì lưới phòng không củaIranrất mạnh.

Đáp lại,Tehrantuyên bố đã sẵn sàng đáp trả mạnh mẽ mọi hành động gây hấn, đồng thời cảnh báoWashingtonvà Tel Aviv sẽ trả giá đắt nếu manh động. Cũng có ý kiến cho rằng những thông tin về kế hoạch tấn công có thể là “đòn gió” của Israel nhằm chuyển hướng dư luận khỏi những khó khăn trong đối ngoại lẫn đối nội của nước này hiện nay.

HẢI CHIẾN – TỪ LỊCH SỬ ĐẾN HIỆN ĐẠI: TÀU TO, SÚNG LỚN VẪN THUA

Tàu hộ tống lớp Gepard 3.9 – Ảnh: Wikipedia

Thời gian qua, tôi quá bận nên không có thời gian chăm sóc trang blog này. Loạt bài HẢI CHIẾN – TỪ LỊCH SỬ ĐẾN HIỆN ĐẠI gồm 06 kỳ, đăng trên báo Thanh Niên. Bạn nào có hứng thú, xin xem các kỳ còn lại tại đây:

Kỳ 2: Ưu thế cận chiến

Kỳ 3: Xu hướng phòng vệ mới

Kỳ 4: Không quân, vai trò không thể thiếu

Kỳ 5: Kẻ hủy diệt dưới nước

Kỳ 6: Định vị và dò tìm: điểm quyết định

Kỳ 1: Với chiến thuật phù hợp thì các lực lượng không có tàu to, súng lớn vẫn có thể chiến thắng những đối thủ với khí tài vượt trội.

Trên chiến trường, không phải lúc nào các lực lượng lớn với nhiều khí tài vượt trội cũng luôn giành ưu thế. Một nguyên tắc cơ bản là mỗi lực lượng quân sự luôn có những điểm mạnh yếu khác nhau, bên nào khai thác hiệu quả các điểm này thì sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng. Với các trận hải chiến cũng vậy, nếu có chiến thuật phù hợp thì vẫn có thể giành chiến thắng dù vũ khí không bằng đối phương.

Hải chiến Thuận An 1643

Theo các sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn (NXB Văn hóa Sài Gòn) và Đại Nam thực lục (NXB Giáo dục), hải quân của chúa Nguyễn ở Đàng Trong từng chiến thắng oanh liệt trước lực lượng tàu chiến hiện đại của Công ty Đông Ấn Hà Lan.

Bắt đầu từ năm 1641, tàu chiến của Hà Lan liên tục cướp phá, quấy rối và hăm he tấn công Đàng Trong. Tháng 5.1642, Công ty Đông Ấn Hà Lan cử nhiều tàu chiến “khủng” đi lùng bắt dân chúng, cướp bóc, đốt phá ở khu vực duyên hải miền Trung hiện nay. Tháng 7.1643, 3 tàu chiến Hà Lan tiến vào cửa Thuận An, thuộc Thừa Thiên – Huế ngày nay. Đây đều là những tàu lớn, có lực lượng binh lính được chọn lọc kỹ càng và trang bị đại bác có sức công phá mạnh. Để đối phó, Chúa Nguyễn Phúc Lan tập trung quần thần lấy ý kiến. Khi hỏi một người Hà Lan đang giúp việc, người này đã dương dương tự đắc rằng: “Tàu Hà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của trời thôi”. Câu trả lời này khiến Chúa Nguyễn Phúc Lan cảm thấy bị xúc phạm và ông quyết định tự mình thân chinh, cùng con trai là Thế tử Nguyễn Phúc Tần, tiến đánh 3 tàu chiến Hà Lan ở cửa Thuận An.

Lực lượng hải quân của Đàng Trong di chuyển trên các thuyền nhỏ nên tính cơ động cao, nhanh nhẹn, dễ dàng tiếp cận tàu địch. Các thuyền Đàng Trong đã bao vây, tấn công quyết liệt vào tàu chiến Hà Lan, mặc dù một số thuyền bị trúng đạn đại bác. Kết quả, cả 3 tàu chiến của Công ty Đông Ấn Hà Lan đều thua tan tác, chiếc thì nổ tung, chiếc thì bị chìm và chỉ có một chiếc chạy thoát. Từ đó về sau, Công ty Đông Ấn Hà Lan không còn dám cử tàu chiến bén mảng đến Đàng Trong. Đó là lần đầu tiên thủy quân ViệtNamđánh thắng một lực lượng thủy quân từ châu Âu.

Nhỏ vẫn hiệu quả

Với các nước mà lực lượng hải quân đóng vai trò phòng thủ, bảo vệ chủ quyền chứ không nhằm bành trướng, tấn công các nước khác, thì việc sở hữu tàu chiến lớn không quá cần thiết. Ngược lại, các tàu chiến nhỏ với khả năng tác chiến linh hoạt sẽ là những khí tài hữu hiệu, có nhiều ưu thế nhất định trước các tàu chiến lớn. Cho nên, các tàu khu trục nhỏ, tàu hộ tống cũng đủ sức bảo vệ chủ quyền.

Điển hình như tàu hộ tống lớp Gepard 3.9 với độ rẽ nước tiêu chuẩn 1.500 tấn có tốc độ di chuyển lên đến 28 hải lý/giờ (tương đương 50 km/giờ), theo website Russian-ships.info. Gepard 3.9 được trang bị tổng cộng 8 ống phóng tên lửa chống tàu, 1 ống phóng tên lửa đối không, 1 bệ 12 ống phóng tên lửa chống ngầm, 4 ống phóng ngư lôi, súng pháo, súng máy. Tàu hộ tống Gepard 3.9 còn có bãi đáp trực thăng chiến đấu. Với trang bị đó, tàu hộ tống Gepard 3.9 đủ sức tác chiến chống lại máy bay, tàu nổi, tàu ngầm không thua kém các tàu khu trục lớn.

Tất nhiên, các tàu khu trục lớn, tàu tuần dương có lợi thế với các hệ thống tên lửa tầm xa. Tuy nhiên, với các nước có bờ biển dài thì các hệ thống tên lửa trên bộ đủ tầm tác chiến chống lại các khu trục hạm lớn của đối phương xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của mình. Như vậy, các tàu chiến nhỏ phối hợp cùng hệ thống tác chiến trên bờ sẽ vẫn đủ sức đảm bảo nhiệm vụ phòng thủ mà không lo ngại các lực lượng hải quân hùng mạnh.

Ngô Minh TríThanh Niên 4.8.2011

* Công ty Đông Ấn Hà Lan

Công ty này được thành lập vào năm 1602 tại Hà Lan, được quốc hội nước này cho phép độc quyền thực hiện các hoạt động thực dân tại châu Á trong 21 năm. Có ảnh hưởng sâu rộng trong chính phủ, Công ty Đông Ấn Hà Lan có khả năng khai chiến, thương lượng các hiệp ước, đúc tiền và thành lập thuộc địa thay cho chính phủ. Vì thế, công ty được trang bị nhiều tàu chiến, khí tài chiến tranh hiện đại vào lúc bấy giờ nên đã chinh phục thành công nhiều vùng ở châu Á trước khi sụp đổ vào thế kỷ 18.