BẤT ỔN BẮC PHI VÀ BẤT ĐỒNG MỸ – TRUNG



Một lần nữa, bất ổn tại Bắc Phi đang khắc họ rõ nét bất đồng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc (ảnh: Reuters)

Mới đây, Bắc Kinh đã lên tiếng chỉ trích cho rằng phương Tây, mà đứng đầu là Hoa Kỳ, chính là tác nhân gây nên bất ổn tại Bắc Phi hiện nay. Chỉ trích này có vẻ như rất bất ngờ khi nhiều chính phủ Bắc Phi, đang vấp phải làn sóng chống đối, vốn dĩ là những đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ. Nhưng thực sự thì chỉ trích này không hoàn toàn bất ngờ, mà  ngược lại thì đó  là một dẫn chứng khác cho những bất đồng Mỹ – Trung.

Khi chính phủ Zine El Abidine Ben Ali ở Tunisia sụp đổ và cuộc khủng hoảng chính trị lan sang Ai Cập, nhiều chuyên gia đã nói đến một trật tự mới, mà vai trò của Hoa Kỳ sẽ bị giảm sút, ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhận định đó bắt nguồn từ việc cựu tổng thống Hosni Mubarak là một trong những đồng minh thân cận lâu năm của Hoa Kỳ. Tương tự như thế, nằm trong vòng xoáy bất ổn còn có cả Jordan và Bahrain, hai đồng minh quan trọng khác của Hoa Kỳ. Nếu Jordan là nước được Hoa Kỳ hỗ trợ xây dựng các trung tâm quân sự, thì Bahrain chính là nơi mà Hoa Kỳ đặt một căn cứ hải quân. Vì thế, nếu các chính thể này sụp đổ, người ta có quyền cho rằng vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực sẽ bị giảm sút, nhất là khi các lực lượng chính trị Hồi giáo chống Mỹ như Tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo nâng cao ảnh hưởng trong quần chúng.

Thế nhưng, trong thực tế, Washington, dù muốn dù không, cũng đã lên tiếng ủng hộ các lực lượng biểu tình và kêu gọi không sử dụng bạo lực để trấn áp biểu tình. Phản ứng trên của Washington là điều hiển nhiên bởi họ luôn truyền bá dân chủ, nên không có lý do nào để siêu cường này có thể “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” nếu không muốn bị lên án là đạo đức giả. Ngoài ra, việc Hoa Kỳ ủng hộ lực lượng phản kháng là cần thiết, vì những chính thể kia đã thực sự quá lung lay, và Hoa Kỳ đã có những mối ảnh hưởng khác có thể dùng để thay thế. Ví dụ như người đứng đầu lực lượng quân sự, tiếp quản đất nước thời hậu Mubarak, là Hussein Tantawi vốn cũng có quan hệ rất tốt với Washington. Nhiều ý kiến còn cho rằng có thể Tantawi lại là một Mubarak thứ hai vì quân đội có quyền lực rất mạnh tại quốc gia này và khó ai có thể trả lời chính xác khi nào quân đội sẽ trao trả quyền lực cho chính quyền dân sự.

Trong khi những tổn hại đối với Hoa Kỳ là chưa rõ ràng, thì một số quốc gia đang có quan hệ tốt với Trung Quốc như Iran hay Libya cũng đang rơi vào vòng xoáy bất ổn trên. Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm cách từ chối trừng phạt Iran trong các vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang đầu tư khá nhiều dự án tại Libya, có hơn 30.000 công nhân Trung Quốc đang làm việc tại Libya. Châu Phi cũng là một nơi chứa nhiều lợi ích của Trung Quốc, tổng đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi lên đến 9,3 tỷ đô la Mỹ chỉ tính riêng năm 2009. Thương mại hai chiều Trung Quốc và châu Phi cũng lên đến 91,1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2009, một con số khá cao dù có thấp hơn mức kỷ lục 106,8 tỷ đô la Mỹ vào năm 2008. Chính vì vậy, bất ổn tại Bắc Phi – Trung Đông cũng gây ra tổn hại đối với Trung Quốc.

Bắc Kinh đã phản ứng. Mới đây, theo đài BBC, thì một quan chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức bày tỏ lo ngại những diễn biến tại Bắc Phi và cảnh báo về điều mà Bắc Kinh gọi là: “sự can thiệp của nước ngoài” vào tình hình nội bộ Libya. Hay ông Trần Kí Bình, phó bí thư thuộc Ủy ban chính pháp, Ban chấp hành Trung ương  Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã quy trách nhiệm cho phương Tây và viết trên một tạp chí chuyên ngành rằng: “Các thế lực thù địch từ phương Tây lập mưu đồ chia rẽ, giương cao ngọn cờ bảo vệ nhân quyền để nhúng tay vào các xung đột nội địa”.

Một thực tế khác đang diễn ra, đó là những bất ổn tại Bắc Phi cũng đã ảnh hưởng đến Trung Quốc, nơi mà chính các lãnh đạo cũng thừa nhận rằng  đang có những bất ổn xã hội vì khoảng cách giàu nghèo, nạn tham nhũng và chuyên chế. Cả chủ tịch Hồ Cẩm Đào hay thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đều từng lên tiếng về vấn đề trên, nhiều lần lên tiếng kêu gọi các cấp chính quyền nước này làm hết sức để xoa dịu các mâu thuẫn xã hội và xây dựng “xã hội hài hòa” . Ảnh hưởng của bất ổn ở Bắc Phi lên Trung Quốc là rất thật khi chủ nhật vừa qua Trung Quốc cũng phải ra tay ngăn chặn một lời kêu gọi ẩn danh huy động người dân biểu tình tại 13 thành phố lớn của nước này. Công an Trung Quốc đã bắt giữ một số người bất đồng chính kiến, tăng cường tuần tra và kiểm soát internet, mạng viễn thông.

Chưa dừng lại ở đó, vai trò của internet, trong cuộc khủng hoảng Bắc Phi – Trung Đông lần này, là rất lớn. Nhân cơ hội này, Washington đã lên tiếng kêu gọi tự do trên internet, một bất đồng khác gây nên nhiều xung đột trong quan hệ Mỹ – Trung lâu nay. Ngày 22.02.2011 vừa qua, Thời báo Hoàn Cầu (Global Times) của Trung Quốc đã đăng bài bình luận chỉ trích luận điểm ủng hộ tự do internet của ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và cho rằng những chỉ trích đó bị nhiều người Trung Quốc xem như những lời “đạo đức giả”. Một lần nữa, những bất đồng Mỹ – Trung được khắc họa sâu sắc hơn trong những vấn đề tưởng chừng rất khác nhau trên thế giới.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 24/02/2011

 

AI CẬP: SỰ THAY ĐỔI MUỘN MÀNG

Người dân Ai Cập vui mừng khi ông Mubarak từ chức (ảnh: Reuters)

Những bất ổn chính trị thường luôn đồng hành cùng bất ổn kinh tế. Thế nên, sự thoái vị của ông Hosni Mubarak cũng là kết quả của sự tích tụ lâu dài những bất ổn của nền kinh tế Ai Cập. Đó còn là bài học về những thay đổi muộn màng.

Ngay sau khi ông Ben Ali phải tháo chạy khỏi Tunisia, người ta bắt đầu nhắc đến những ảnh hưởng có thể lan rộng của sự kiện đó. Nhiều nước lân cận ở Trung Đông lẫn châu Phi được xem là khu vực có thể bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khi đó, đài BBC có nói đến danh sách một số quốc gia có các lãnh đạo “cao niên” đã và đang cầm quyền nhiều năm nay; trong số đó ông Hosni Mubarak trở thành “ứng viên sáng giá” cho khả năng phải rời khỏi đỉnh cao quyền lực, bởi vấn đề kinh tế đang trở thành thử thách to lớn mà bản thân ông khó có thể vượt qua được.

Thực ra, bản thân cựu tổng thống Hosni Mubarak đã nhìn thấy được những bất ổn kinh tế đang ngày càng thể hiện rõ hơn trong nền kinh tế AI Cập. Tháng 12-2010, sau khi đảng NDP của ông Mubarak chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội, ông Mubarak đã đăng đàn hứa hẹn sẽ giúp cho kinh tế Ai Cập đạt mức tăng trưởng 8% trong 5 năm tới, mức tăng trưởng mà Ai Cập từng đạt được trước cơn khủng hoảng toàn cầu. Có thể, mức tăng trưởng mà ông Mubarak hứa hẹn không quá xa so với con số 4,7% của năm 2009 và 5% của năm 2010 hay mức tăng trưởng năm nay được dự báo là 6%, nhưng bất ổn của nền kinh tế Ai Cập không chỉ đơn giản là con số tăng trưởng.

Cuối tháng 1-2011, hãng Moody’s đã chính thức hạ bậc tín nhiệm nợ của Ai Cập từ mức BA1 xuống thành BA2, và đánh giá tình trạng của Ai Cập từ mức “ổn định” xuống còn “tiêu cực”. Đó không chỉ là kết quả của việc người dân Ai Cập bắt đầu xuống đường phản đối chính phủ của ông Mubarak mà vì nhiều nguyên nhân khác. Cho đến tháng 6-2010, tổng số nợ công của Ai Cập đã lên mức 1.080 tỉ bảng Ai Cập (khoảng 183,7 tỉ đô la Mỹ), tương đương 89,5% GDP. Không chỉ thế, đến cuối năm 2010, Ai Cập bị thâm hụt ngân sách lên đến 8% GDP. Lạm phát ngày càng tăng nhanh với mức 10%, đặc biệt  là giá thực phẩm tăng đến 17%. Tỷ lệ thất nghiệp 10% được chính quyền Mubarak công bố cũng bị nhiều người nghi ngờ, một số kinh tế gia cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể lên đến 25%.

Lạm phát tăng nhanh làm tăng gánh nặng cho dân chúng Ai Cập với số lượng người nghèo đang ở mức cao. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, có đến 40% dân số Ai Cập đang sống dưới mức nghèo, tức có mức sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày và thu nhập trung bình hàng năm của người dân chỉ hơn 2.000 đô la Mỹ. Người nghèo của Ai Cập vốn phụ thuộc vào trợ cấp lương thực, nhiên liệu và các mặt hàng khác, có thể phải cần khoản trợ cấp lên đến 17,4 tỉ đô la Mỹ – một con số khổng lồ mà trong bối cảnh hiện tại của Ai Cập, chính quyền khó có thể đảm đương.

Rõ ràng, khi tình hình kinh tế ngày càng khó khăn, những kiềm hãm về chính trị với mức độ dân chủ thấp, thì những thay đổi nếu có sẽ là rất giới hạn. Chính vì thế, những hứa hẹn của ông Mubarak về con số 8% tăng trưởng đã không đủ sức thuyết phục người dân. Cuộc xuống đường của hàng trăm nghìn người đã trở thành một hệ quả tất yếu, nhất là khi nó được tiếp sức bởi những thay đổi mới vừa diễn ra ở Tunisia.

Không chỉ thế, cái giá của cuộc xuống đường phản đối cũng đã khiến cho người dân Ai Cập không còn được phép rút lui, bởi nền kinh tế đã bị tác động nghiêm trọng. Phí tổn mà nền kinh tế Ai Cập phải gánh chịu từ cuộc biểu tình, do Ngân hàng đầu tư Credit Agricole tính toán, lên đến 310 triệu đô la Mỹ mỗi ngày. Thị trường chứng khoán Ai Cập mất 20% giá trị chỉ sau hai ngày đầu của cuộc biểu tình. Mức tăng trưởng 6% dự báo trong năm nay cũng bị hạ xuống chỉ còn 3,7%, đồng bảng Ai Cập dự báo sẽ mất giả đến khoảng 20%. Ngành du lịch Ai Cập bị tê liệt trong nhiều ngày và có thể sẽ còn tiếp tục ngưng trệ, trong khi ngành du lịch của nước này đạt doanh thu đến 11,6 tỉ đô la Mỹ trong năm 2009 và sử dụng 12% lực lượng lao động. Các hoạt động vận chuyển qua kênh đào Suez, vốn đem lại giá trị không nhỏ, cũng rơi vào tình trạng tê liệt, nhiều hãng vận chuyển đã tạm ngưng hoạt động tại Ai Cập. Nhiều chuyên gia kinh tế còn nhận định nền kinh tế Ai Cập đang đi vào tình trạng tê liệt hoàn toàn.

Cho nên, quyết tâm đạt được mục đích của những người biểu tình càng cao hơn khi cái giá mà họ phải trả đã quá lớn. Khi người dân xuống đường không còn đường lui thì ông Mubarak phải ra đi trở thành điều tất yếu kế tiếp, những cam kết thay đổi mà ông Mubarak đề ra đã trở nên quá muộn màng.

Những gì vừa diễn ra tại Ai Cập là một bài học cho mọi chính phủ. Đó là chính quyền cần phải có những thay đổi kịp thời để đảm bảo cho sự phát triển cũng như cuộc sống của người dân. Khi người dân không còn tin tưởng thì những thay đổi nếu có cũng trở nên quá muộn màng và chính quyền dù mạnh đến đâu, như đảng NDP của ông Mubarak chiếm đến 90% quốc hội, cũng sẽ phải sụp đổ.

Ngô Minh Tríđăng trên TB.KTSG Online 16.02.2011