BƯỚC XUỐNG ĐỂ TIẾN LÊN

Ông Lý Quang Diệu đã bước xuống để đất nước có thể tiến lên

 Ngày 14.05.2011, bộ trưởng cố vấn Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) và bộ trưởng cao cấp Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) của Singapore bất ngờ tuyên bố rút khỏi nội các của Singapore, đang do thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu, lãnh đạo.

Từ năm 1959 đến nay, ông Lý Quang Diệu luôn là một lãnh đạo chủ chốt với 31 năm đảm nhiệm chức vụ thủ tướng, 14 năm trong cương vị bộ trưởng cao cấp trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống và là bộ trưởng cố vấn từ năm 2004 đến nay. Trong suốt quá trình đó, Singapore đã phát triển từ vị trí của một cảng biển kém phát triển, một đất nước thuộc thế giới thứ ba không có cơ sở kinh tế nào đáng kể, thiếu thốn tài nguyên nhưng đã phát triển mạnh mẽ để trở thành một quốc gia phát triển của thế giới thứ nhất với thu nhập đầu người khoảng 48.000 đô la Mỹ vào năm 2010. Cho nên, quyết định trên của ông Lý Quang Diệu và ông Ngô Tác Đống là một dấu ấn quan trọng không chỉ đối với chính trường Singapore mà còn quan trọng đối với cả đảo quốc sư tử.

Cũng vì thế, trước quyết định trên của ông Lý Quang Diệu, một số ý kiến tỏ ra hối tiếc và mong muốn ông Lý Quang Diệu tiếp tục hiện diện trong nội các chính phủ. Goh Yook Kim, một công dân Singapore 70 tuổi đã nghỉ hưu, nói rằng đó là một “điều đáng tiếc”, cho rằng: “Điều đó giống như có một kho báu và chúng ta ném kho báu ấy đi”. Goh Yook Kim là một trong trong số 120 người dân được nhật báo Straits Times (Singapore) thăm dò ý kiến về việc từ chức của hai bộ trưởng. Hầu hết những người được hỏi chỉ ra rằng việc bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô tiếp tục tại chức là cần thiết hơn để đưaSingapore tiến lên.

Tuy nhiên, không phải ai cũng nghĩ như thế. Trong cuộc phỏng vấn của Straits Times, nhà kinh doanh Chung Peng Hock, 48 tuổi, nói rằng: “Với sự thiếu vắng bộ trưởng cố vấn Lý trong bức tranh (nội các), các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ sẽ có cơ hội để chứng minh rằng họ có khả năng lãnh đạo đất nước của mình mà không phải dựa vào ông ấy”. Còn Cham Mooi Kiong, 58 tuổi và là chủ một cửa hàng tiện lợi, cho rằng thủ tướng Lý Hiển Long đã sẵn sàng tự lãnh đạo nội các của mình từ lâu khi nhận xét rằng: “Thủ tướng Lý (Hiển Long) đã sẵn sàng xây dựng đội ngũ của riêng ông ấy trong năm năm qua. Thật là không công bằng nếu nói rằng ông ta có thể lãnh đạo kể từ bây giờ khi bộ trưởng cố vấn và bộ trưởng cao cấp từ chức”.

Không những thế, có cả ý kiến thẳng thắn cho rằng sự ở lại của hai bộ trưởng là không cần thiết. Nhân viên ngân hàng Crystal Chan, 28 tuổi, trả lời phỏng vấn của Straits Times là: “Tôi nghĩ rằng cuộc bầu cử vừa qua đã cho thấy một điều khá rõ ràng là cả bộ trưởng cố vấn lẫn bộ trưởng cao cấp đều đã đánh mất sự tiếp xúc với thế hệ trẻ, và nếu họ ở lại trong nội các thì họ chỉ đóng vai trò như cái bóng trong các chính sách của thủ tướng mà thôi”.

Một số chuyên gia cũng có nhận định là lẽ ra bộ trưởng cố vấn Lý và bộ trưởng cao cấp Ngô nên từ chức sớm hơn. Bridget Welsh, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, phát biểu với hãng thông tấn AFP là: “Việc nghỉ hưu của ông Lý Quang Diệu đã dài quá hạn, vì ông ấy đã mất kết nối với thế hệ Singapore hiện tại”. Reuters trích dẫn Eugene Tan, trợ lý giáo sư tại Đại học Quản lý Lý Quang Diệu, nhận xét việc xem ông Lý Quang Diệu như một lãnh đạo toàn năng là “lỗi thời” và “thậm chí là độc tài”.

Kết quả của cuộc bầu cử vừa qua cho thấy những nhận xét của các chuyên gia là xác đáng. Trong cuộc bầu cử vừa qua, mặc dù đảng Nhân dân hành động (PAP) của ông Lý Quang Diệu vẫn chiếm áp đảo 81 ghế trong số 87 ghế tại quốc hội nhưng đã có một sự giảm sút đáng kể trong tín nhiệm của người dân khi tỷ lệ bầu cho PAP chỉ còn 60,1%, mức thấp kỷ lục kể từ khi PAP được thành lập. Tỷ lệ ủng hộ dành cho PAP đã giảm nhanh trong mười năm qua khi tỷ lệ bỏ phiếu dành cho PAP vào năm 2001 là 75% và năm 2006 là 67%. Vị thế của lực lượng đối lập cũng tăng lên khi các đảng đối lập chỉ dám tranh cử 47 ghế trong 84 ghế tại cuộc bầu cử năm 2006 thì nay họ đã dám tranh cử 82 trong 87 ghế trong cuộc bầu cử quốc hội vừa qua.

Khi PAP đang mất dần sự ủng hộ của dân chúng thì quyết định của ông Lý Quang Diệu là để chứng tỏ với người dân rằng PAP đang thay đổi, nhằm lấy lại sự ủng hộ của người dân. Mặc dù có thể quyết định trên không tạo ra sự thay đổi chính sách của PAP như Eugene Tan nhận xét, nhưng dù sao đi nữa thì quyết định thoái lui của ông Lý Quang Diệu có thể xem là một quyết định phù hợp với những chuyển biến của ý chí người dân, như những nhận xét trên.

Như thế, một lần nữa, Lý Quang Diệu cho thế giới thêm một bài học về cầm quyền. Bài học đó là dù người lãnh đạo có đóng góp nhiều như thế nào cho đất nước thì vẫn phải tuân theo ý chí của người dân chứ không phải mãi là người dẫn đường dân chúng, người lãnh đạo phải sẵn sàng bước xuống để đất nước tiến lên.

Ngô Minh Trí

ASEAN TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC

Khối ASEAN đang loay hoay trước những thách thức (ảnh: Internet)

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 đã khép lại mà không có thành quả nào đáng kể trong khi ASEAN đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài khối.

Trước khi Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 diễn ra tại thủ đô Jakarta, Indonesia, trong hai ngày 07 và 08.05.2011, báo Straits Times (Singapore) đã đăng bài “Xung đột che phủ hội nghị cấp cao ASEAN” (Conflicts cloud ASEAN summit). Thực tế là như thế! Cuộc xung đột biên giới, bắt đầu từ cuối tháng tư vừa qua, giữa hai thành viên của ASEAN là Thái Lan và Campuchia đã khiến cho 18 người thiệt mạng và khoảng 85.000 người phải bỏ nhà cửa đi lánh nạn. Bangkok Post (Thái Lan) dẫn lời tổng thống Philippine Benigno Aquino nói với phóng viên trước thềm hội nghị rằng sự đoàn kết của ASEAN có thể bị đe doạ và quan ngại cuộc xung đột có thể tồi tệ hơn.

Thế nhưng, kết thúc hội nghị cấp cao ASEAN, lãnh đạo các nước thành viên của khối chỉ đi đến một tuyên bố chung rằng xung đột “nên được giải quyết một cách thân thiện trên tinh thần của sự đoàn kết ASEAN”. Cuộc họp ba bên giữa tổng thống Indonesia, chủ tịch đương nhiệm của ASEAN, thủ tướng Campuchia và thủ tướng Thái Lan cũng không khai thông được bất đồng giữa hai nước. Thái Lan cho phép bố trí quan sát viên quân sự của Indonesia tại khu vực xung đột nếu Campuchia triệt thoái quân đội khỏi khu vực ấy – một điều kiện mà Campuchia cho là phi lý và không thể chấp nhận được. Các bộ trưởng ngoại giao Thái Lan và Campuchia phải ở lại Jakarta thêm một ngày sau hội nghị thượng đỉnh để tiếp tục họp kín với ngoại trưởng nước chủ nhà trong một cuộc họp kéo dài ba tiếng đồng hồ mà ngoại trưởng Indonesia cho là “có tính xây dựng và hiểu biết lẫn nhau” nhưng kết quả như thế nào, hai bên có đạt được thoả thuận hay không, nội dung thoả thuận như thế nào, cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính xác nào được tiết lộ cho báo chí.

Như vậy, ASEAN đã không giải quyết được xung đột giữa Thái Lan và Campuchia. Báo Bangkok Post đã không ngần ngại bình luận là “ASEAN có lập trường nhút nhát”. Lý giải cho thất bại này, Banbarto Bandoro, giáo sư về quan hệ quốc tế tại đại học quốc phòng Indonesia, phát biểu trên New York Times rằng ASEAN bị hạn chế trong việc giải quyết vấn đề của các thành viên vì “nguyên tắc không can thiệp”. Ông Banbarto Bandoro nhận xét thêm: “Nếu các quốc gia ASEAN tiếp tục giữ vững nguyên tắc không can thiệp được gọi là thiêng liêng, thì tôi cảm thấy bi quan với việc ASEAN sẽ có khả năng giải quyết các vấn đề trong tương lai”.

Quả thực, kỳ vọng vào khả năng của ASEAN đã bị giảm đi sau sự thất bại này. Mục tiêu của đề án phát triển cộng đồng kinh tế chung cho ASEAN vào năm 2015, để người dân và hàng hoá các nước thành viên có thể tự do di chuyển, cũng bị nghi ngờ về khả năng thành công. ASEAN luôn kỳ vọng rằng sự thống nhất sẽ tạo đà phát triển cho một khu vực kinh tế trị giá 1.800 tỷ đô la Mỹ với hơn nửa tỷ dân. Nhưng như tổng thống Philippine Benigno Aquino cũng tỏ rõ sự lo ngại: “Làm thế nào chúng ta có thể có một ASEAN như một gia đình khi mà hai thành viên chính không thể giải quyết vấn đề của họ?”.

Ngoài xung đột biên giới Thái Lan – Campuchia, nội bộ ASEAN đã tồn tại không ít các bất đồng và va chạm quyền lợi; điển hình là vấn đề đập thuỷ điện Xayaburi gần đây. Tuy dự án Xayaburi đã được tạm hoãn nhưng đó cũng là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc thiếu sự hợp tác đầy đủ giữa các nước thành viên Uỷ hội sôngMekongvà cũng là các thành viên của ASEAN. Xayaburi chỉ là một trong hàng loạt các dự án thuỷ điện đang gây tranh cãi giữa các thành viên của khối.

Sự đoàn kết của ASEAN còn bị thử thách bởi các quốc gia ngoài khối. Điển hình như quan hệ giữa các thành viên của ASEAN với Trung Quốc. Trước khi hội nghị cao cấp ASEAN lần thứ 18 diễn ra, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã tiến hành công du đến hai thành viên của khối ASEAN là Malaysia và Indonesia. Ông Ôn Gia Bảo đã ca ngợi Malaysialà: “người anh em tốt, người hàng xóm thân tình”. TạiIndonesia, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết những khoản đầu tư nhiều tỷ đô la Mỹ cho nước này.  Các thành viên của ASEAN đang có những lợi ích riêng biệt trong quan hệ với Trung Quốc mà nhiều khi lợi ích đó hoàn toàn không phù hợp với quyền lợi chung của nhóm.

Khi ASEAN không chứng minh được sự thống nhất và đoàn kết của khối thì kỳ vọng xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) vào năm 2012 cũng trở thành một thử thách. Trong thực tế, ASEAN và Trung Quốc đã ký một Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) từ năm 2002 nhưng đến nay vẫn chưa có một bước tiến nào để biến thành các quy định cụ thể.

Trong ngắn hạn, thử thách cho ASEAN còn là vấn đềMyanmarđảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2014. Nếu ASEAN không đồng ý cho Myanmar làm chủ tịch luân phiên thì rất dễ gây rạn nứt nội bộ, nhưng nếu ASEAN đồng ý thì sẽ khó xử trong quan hệ với phương Tây khi mà phương Tây đưa Myanmar vào nhóm quốc gia vi phạm nhân quyền. ASEAN sẽ phải quyết vấn đề trên trong hội nghị cấp cao lần thứ 19 tới đây tạiBali.

Một khối liên quốc gia như ASEAN chỉ thực sự mạnh mẽ khi có thể giải quyết được vấn đề của các thành viên cũng như sự thống nhất của khối. Thế nhưng, ASEAN đang loay hoay trong các thử thách trên.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 12.05.2011

HOA KỲ VÀ “HẬU BIN LADEN”

Ông Obama sẽ làm những gì sau khi Bin Laden bị tiêu diệt? (ảnh: AP)

Giữa lúc nước Mỹ đang rối bời với nợ công sắp đụng trần, thâm hụt ngân sách trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn đang cao, đồng đô la ngày càng mất giá… thì cái chết của Osama Bin Laden đã phần nào đem đến sự hân hoan cho nước Mỹ. Với tổng thống Barack Obama, cái chết của Bin Laden là “thành tựu” đáng kể để ông chứng minh rằng mình đã phần nào làm tròn lời hứa khi tranh cử. Nhờ đó, hình ảnh của ông Obama trong mắt cử tri Mỹ đã cải thiện phần nào sau một loạt sụt giảm vì kinh tế ảm đạm. Hầu hết các cuộc khảo sát của CNN, Reuters, Washington Post sau cái chết của Bin Laden đều cho kết quả khả quan đối với tổng thống Barack Obama. Uy tín gia tăng đang là một yếu tố quan trọng đối với tổng thống Barack Obama cho chiến dịch tranh cử tổng thống nhiệm kỳ kế tiếp vào năm sau.

Tuy nhiên, cái chết của Bin Laden không chỉ đơn thuần giúp cho tổng thống Barack Obama cứu vãn hình ảnh của mình mà còn là cơ hội để Hoa Kỳ thoái lui khỏi chiến trườngAfghanistan. Rõ ràng, Afghanistan không còn là cứ điểm duy nhất của Al Qaeda nói riêng và khủng bố nói chung, nên việc duy trì chiến trường Afghanistan chẳng đem nhiều lợi ích cho Mỹ. Ngoài ra, mặc dù cái chết của Osama Bin Laden chưa đủ sức giải quyết dứt điểm cuộc chiến chống khủng bố nhưng là cơ hội để vấn đề Afghanistan nhanh chóng ổn định hơn. Từ tháng mười năm ngoái, Hoa Kỳ và chính phủAfghanistanđã mở ngỏ để lực lượng Taliban tham gia chính quyền. Bin Laden chết đi xem như lãnh tụ tinh thần không còn, nên đây sẽ là cơ hội để chính phủAfghanistanvà lực lượng Taliban có cơ hội tìm được tiếng nói chung.

Cho nên, cái chết của Osama Bin Laden lần này có thể tạo ra một lý do hoàn hảo để Mỹ thoái lui trong danh dự ra khỏi cuộc chiếnAfghanistan, một cuộc chiến không chỉ không đem lại kết quả như mong muốn mà còn tiêu tốn một khoản kinh phí khổng lồ.

Từ khi bắt đầu vào năm 2001 đến nay, chiến phí dành cho cuộc chiến Afghanistan đã tiêu tốn khoảng 401 tỷ USD, chi phí cho năm 2011 ước tính khoảng 107,3 tỷ USD. Thế nên, khi Hoa Kỳ rút lui khỏi chiến trường Afghanistan và thoái lui hoàn toàn khỏi Iraq sẽ giúp cho Hoa Kỳ cắt giảm khoản ngân sách đáng kể, tổng ngân sách ước tính cho chiến trường Afghanistan và Iraq trong năm 2011 lên đến 172,4 tỷ USD. Cùng với khoản tiết kiệm từ chiến phí nói trên, khoản cắt giảm ngân sách quốc phòng hàng trăm tỷ USD trong kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách tổng thống Obama sẽ có thể tạo ra những kết quả tích cực hơn cho kinh tế Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, việc rút khỏi “bãi lầy” Afghanistan còn cho phép Hoa Kỳ được “rảnh tay” để có thể ra sức tái khẳng định vị thế của mình.

Chính vì vậy, mặc dù cái chết của Bin Laden sẽ không là hồi kết cho cuộc chiến chống khủng bố mà Hoa Kỳ phát động, nhưng ảnh hưởng của nó đến Hoa Kỳ sẽ là không nhỏ.

Ngô Minh Trí

CUỘC “VẠN LÝ TRƯỜNG CHINH” CỦA NHÂN DÂN TỆ

Trung Quốc có nâng vị thế đồng NDT và hạ bệ đô la Mỹ (ảnh: Reuters)

Đến nay, mặc dù Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng Nhân dân tệ (NDT) vẫn chưa là một loại tiền tệ quốc tế. Và để nâng NDT thành một đồng tiền quốc tế, Trung Quốc đang nỗ lực bắt đầu một cuộc “vạn lý trường chinh”.

Thúc đẩy giao thương bằng Nhân dân tệ

Theo Wall Street Journal, vào thứ ba tuần trước (19.04.2011), một quan chức cao cấp trong ngành tài chính Hongkong đã cho biết Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang “tích cực xem xét” những quy định mới để giúp việc mang nhân dân tệ quay trở lại Trung Quốc được dễ dàng hơn. Hiện tại, Trung Quốc vẫn đang thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt các dòng tiền ra vào nền kinh tế Trung Quốc. Với chiều hướng thay đổi đó, Bắc Kinh muốn tạo niềm tin cho các đối tác nước ngoài rằng có thể dễ dàng sử dụng NDT đầu tư trở lại Trung Quốc để các đối tác có thể chấp nhận thanh toán bằng NDT trong giao thương.

Thứ hai tuần trước (18.04.2011), Tân Hoa Xã trích dẫn báo cáo của một quan chức Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết giá trị giao thương quốc tế của NDT trong quý một năm nay đã đạt 7% tổng ngoại thương của Trung Quốc, một sự tăng trưởng đáng kể khi tỷ lệ trên chỉ là 5,7% trong quý tư và 0,5% trong quý một năm trước. Như vậy, trong quý một vừa qua, giá trị ngoại thương bằng NDT đã tăng từ mức 309,3 tỷ NDT (tương đương 47,3 tỷ đô la Mỹ) của quý trước lên thành 360,3 tỷ NDT (tương đương 55,2 tỷ đô la Mỹ), gấp hai mươi lần so với con số 18,4 tỷ NDT (tương đương 2,8 tỷ đô la Mỹ) của cùng kỳ năm trước.

Những con số tăng trưởng không ngừng của giá trị ngoại thương bằng NDT là kết quả của những nỗ lực không ngừng của Bắc Kinh để tăng cường khả năng giao thương của NDT. Tháng 12 năm ngoái, Trung Quốc đã nâng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu được phép sử dụng NDT trong ngoại thương từ mức vài trăm lên thành 70.000 doanh nghiệp. Trung Quốc cũng đẩy mạnh cả các thoả thuận thương mại song phương bằng NDT với nhiều quốc gia khác. Cuối năm ngoái, Trung Quốc đã có được sự thoả thuận với Nga để loại bỏ đô la Mỹ ra khỏi giao thương giữa hai nước. Trung Quốc cũng đã có thoả thuận với Brazil để tăng cường thanh toán giao thương song phương bằng NDT hơn là đô la Mỹ. Wall Street Journal đã dẫn lời một quan chức ngành tiền tệ Singapore cho biết rằng Singapore cũng đang đàm phán để thực hiện việc giao thương song phương bằng NDT.

Trung Quốc cũng đang thúc đẩy để các công ty phương Tây và Trung Quốc có thể dễ dàng phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu bằng NDT. Các doanh nghiệp Caterpillar Inc, McDonald’s Corp và Unilever NV trở thành những đơn vị tiên phong cho nỗ lực trên. Tháng tám năm ngoái, MC Donald đã trở thành doanh nghiệp phi tài chính đầu tiên phát hành trái phiếu bằng NDT trị giá 200 triệu NDT (tương đương 29 triệu đô la Mỹ). Nên khi NDT có thể được đầu tư dễ dàng hơn tại Trung Quốc sẽ càng kích thích các doanh nghiệp khác thực hiện huy động vốn bằng NDT.

“Quốc tế hoá” Nhân dân tệ và “hạ bệ” Đô la Mỹ

Để “quốc tế hoá” NDT, Bắc Kinh cũng đang ra sức vận động để NDT có một vai trò lớn hơn trong các định chế tài chính quốc tế. Trước mắt, Bắc Kinh đang muốn NDT nhanh chóng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs (Special Drawing Rights), loại tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mà các quốc gia có thể dùng để dự trữ. Hiện tại, rổ tiền tệ SDRs đang chỉ có đô la Mỹ, Euro, Bảng (Anh) và Yên (Nhật). Trung Quốc đã thể hiện rất rõ tham vọng trên của mình, thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên phát biểu rằng: “Nếu có ai đề nghị rằng NDT nên nằm trong rổ tiền tệ SDRs thì chúng tôi sẽ hoan nghênh ý kiến đó”. Cuối tháng trước, khối G20, về cơ bản, đã đồng ý một tiến trình để NDT có mặt trong rổ tiền tệ của SDRs.

Đó là một trong những nỗ lực thúc đẩy hình thành một hệ thống kinh tế tài chính mà trong đó NDT đóng vai trò trung tâm, hay nói một cách khác là nhằm phát triển NDT trở thành tiền tệ quốc tế. Thông qua việc “quốc tế hoá”, nâng cao vị thế NDT, Trung Quốc cũng muốn tìm cách giảm nhẹ vai trò của Đô la Mỹ. Cho nên, Trung Quốc vẫn đang liên tục vận động để SDRs dần thay thế đô la Mỹ trong dự trữ của các nền kinh tế. Năm ngoái, Trung Quốc đã đưa phó thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Dân làm cố vấn đặc biệt cho chủ tịch IMF Dominique Strauss Kahn nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình trên.

Rủi ro và thử thách

Mặc dù, Trung Quốc đang một số thành công nhất định trong việc “quốc tế hoá” và gia tăng vị thế NDT. Tuy nhiên, nỗ lực trên của Trung Quốc cũng đang vấp phải không ít khó khăn.

Trước hết, tham vọng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs của Trung Quốc đã gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía Hoa Kỳ với lý do Trung Quốc vẫn chưa thả nổi tỷ giá NDT theo thị trường. Tại hội nghị bộ trưởng tài chính khối G20 vào cuối tháng trước, bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Timothy Geithner dù đồng ý là: “Theo thời gian, chúng tôi tin rằng các loại tiền tệ của các nền kinh tế lớn sử dụng nhiều trong các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế sẽ trở thành một phần của rổ tiền tệ SDRs”, nhưng ông Geithner cho rằng: “Để đạt được mục tiêu này, các nước liên quan cần phải có hệ thống tỷ giá linh hoạt, ngân hàng trung ương độc lập và cho phép các dòng vốn tự do”. Hoa Kỳ vẫn luôn chỉ trích rằng Trung Quốc đã không chịu thả nổi tỷ giá của NDT. Dù sao thì Hoa Kỳ vẫn có một vai trò lớn trong IMF nên sự phản đối từ Hoa Kỳ sẽ là cản lực lớn.

Không riêng gì Hoa Kỳ, ngay cả Pháp cũng ngầm cho rằng Trung Quốc phải tiến hành thả nổi tỷ giá NDT nếu muốn có mặt trong rổ tiền tệ SDRs. Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde cũng nhấn mạnh vào tính linh hoạt của tỷ giá tiền tệ và sự độc lập của ngân hàng trung ương. Qua đó, bà Christine Lagarde khẳng định sự thay đổi về việc DNT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs phụ thuộc vào chính quyền Trung Quốc. Ngay cả các thành viên của nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS, trong hội nghị thượng đỉnh vừa qua tại Trung Quốc, cũng chưa nhất trí để có được thoả thuận cho phép NDT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs.

Bên cạnh thử thách để gia nhập rổ tiền tệ SDRs, dự trữ ngoại tệ khổng lồ trị giá hơn 3047 tỷ Đô la Mỹ, mà phần lớn là đô la Mỹ, cũng trở thành một rủi ro khi Đô la Mỹ mất giá mà Trung Quốc vẫn chưa có biện pháp “thanh lý” Đô la Mỹ trong kho dự trữ của mình. Các quốc gia khác vừa không mong muốn đô la Mỹ mất giá nhanh chóng khi đô la Mỹ vẫn là phương tiện dự trữ chính, cũng vừa không sẵn sàng “giảm tải” kho dự trữ khổng lồ trên cho Trung Quốc. Điều đó sẽ khiến cho quá trình đẩy mạnh vai trò dự trữ của SDRs bị chậm đi. Hiện tại, Trung Quốc chỉ đưa được NDT ra nước ngoài và tạo sự luân chuyển tốt hơn nhưng chưa có biện pháp giảm bớt dự trữ đô la Mỹ hay nói cách khác là Trung Quốc đang nan giải với kho dự trữ ngoại tệ, cũng giống như nan giải với tỷ giá linh hoạt vì nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu.

Chính vì thế, “quốc tế hoá” NDT sẽ là cuộc “vạn lý trường chinh” đầy thử thách của Trung Quốc.

Ngô Minh Trí - đăng trên tran 66-67 Thời báo Kinh tế Sài Gòn 28.04.2011

MỸ CẮT GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH: BẤT ĐỒNG SÂU SẮC

Ông Obama cam kết duy trì chính sách về y tế, trái với kế hoạch của đảng Cộng hoà muốn cắt giảm chi tiêu cho chính sách này (Ảnh: AP)

Kế hoạch cắt giảm ngân sách mới công bố của tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã bị chỉ trích gay gắt từ đảng Cộng hòa, khiến bất đồng giữa hai đảng về ngân sách càng trở nên sâu sắc hơn.

Ngày 13.04 vừa qua, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có bài phát biểu kéo dài hơn bốn mươi phút tại đại học George Washington. Nội dung của bài phát biểu nói về vấn đề chi tiêu và ngân sách của Hoa Kỳ. Trong đó, tổng thống Obama đã chính thức loan báo một kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách 4000 tỷ USD trong thời gian mười hai năm. Theo kế hoạch, ông Obama sẽ thực hiện cắt giảm chi tiêu khoảng 750 tỷ, cắt giảm ngân sách quốc phòng khoảng 400 tỷ, cải cách chính sách thuê và tiếp tục các cải cách y tế để tiết kiệm cho ngân sách.

Obama “tấn công bất ngờ”

Trước khi Obama loan báo kế hoạch của mình, đảng Cộng hòa đã đề xuất một kế hoạch khác để cắt giảm thâm hụt ngân sách, tác giả là nghị sỹ Paul D. Ryan của bang Wiscosin kiêm chủ tịch Ủy ban ngân sách hạ viện, trị giá 4.400 tỷ USD trong thời gian mười năm. Kế hoạch của đảng Cộng hòa không chỉ có mức độ cắt giảm sâu hơn, nhanh hơn mà còn có nhiều khác biệt so với kế hoạch của tổng thống Obama. Hai khác biệt lớn nhất chính là vấn đề cải cách chính sách y tế và chính sách thuế.

Thế nên, trong bài phát biểu loan báo kế hoạch của mình, tổng thống Barack Obama cũng lên tiếng chỉ trích kế hoạch của đảng Cộng hòa. Ông Obama cho rằng kế hoạch cải tổ chính sách  y tế của đảng Cộng hòa sẽ cắt giảm ngân sách bằng cách bắt những người già và người nghèo trả tiền cho các dịch vụ y tế, trong khi kế hoạch của ông sẽ cắt giảm bằng cách cắt giảm chi phí trong chi tiêu của lĩnh vực y tế và sức khỏe. Theo ông Obama, chính sách cải cách y tế của ông sẽ giảm bớt các khoản trợ cấp lãng phí và các thanh toán không chính xác.

Bàn về chính sách thuế, Obama cho rằng: “Trong tháng mười hai vừa qua, tôi đồng ý gia hạn cắt giảm thuế cho những người Mỹ giàu có nhất bởi vì đó là cách duy nhất tôi có thể ngăn chặn việc tăng thuế của những người Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu”. Vì thế, tổng thống Obama tuyên bố mình sẽ thay đổi để tăng cường đánh thuế người giàu, cắt giảm khấu trừ thuế để có thể đem lại khoản cắt giảm thâm hụt lên đến 1000 tỷ USD trong mười năm.

Sự chỉ trích kế hoạch của tổng thống Obama được Wall Street Journal nhận định là một cuộc “tấn công bất ngờ” vào chính sách của đảng Cộng hòa và của cá nhân thượng nghị sỹ Paul D. Ryan, tổn hại hơn đến hy vọng mong manh về việc hai đảng có thể thỏa thuận được vấn đề ngân sách.

Cộng hòa “phản pháo”

Theo Wall Street Journal, đảng Cộng hòa đã nhanh chóng chỉ trích rằng phát biểu của ông Obama là quá mang tính đảng phái. Phản ứng về phát biểu của tổng thống Obama, Paul D. Ryan cho rằng ông hy vọng hai đảng có thể tìm được tiếng nói chung về việc kiểm soát chi tiêu và cải cách chính sách y tế, nhưng luận điệu “hiếu chiến” của Obama làm cho thỏa thuận trở nên khó khăn hơn. Nghị sỹ Paul D.Ryan cho rằng tổng thống Obama “thay vì xây cầu, ông ấy lại hủy hoại sự tốt đẹp”.

Chủ tịch hạ viện John A. Boehner cũng chỉ trích kế hoạch của ông Obama khi cho rằng kế hoạch của đảng Cộng hòa là “đưa chúng ta vào con đường trả nợ, giúp bảo toàn chăm sóc y tế và trợ giúp y tế trong tương lai”, nhưng “tôi không nghe thấy một kế hoạch phù hợp như thế từ tổng thống Obama”. Không dừng lại ở đó, theo New York Times, ông John A. Boehner còn lặp lại sự đe dọa rằng sẽ không thông qua việc tăng trần nợ công theo đề xuất từ phía Nhà Trắng trừ khi chính phủ đồng ý kiềm chế chi tiêu và thâm hụt.

Trước những bất đồng đang trở nên sấu sắc hơn giữa tổng thống Obama và đảng Cộng hòa, New York Times bình luận rằng: “Kế hoạch nợ của Obama thiết lập một giai đoạn tranh luận dài hơi về vấn đề chi tiêu”.

Ngô Minh Trí – đăng trên SGTT Online

TRUNG QUỐC THÂM HỤT THƯƠNG MẠI TRONG QUÝ I: KHÔNG NHIỀU BẤT NGỜ

Vải nhập khẩu từ Trung Quốc được bày bán ở Kano, đông bắc Nigeria (Ảnh: Reuters)

Tuy đạt thặng dư thương mại trong tháng 3, nhưng tính chung, trong quý đầu năm, nền kinh tế được mệnh danh là công xưởng của thế giới đã phải nhập siêu.

Theo số liệu do tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố vào ngày 10.4.2011, xuất khẩu trong tháng 3 của nước này đã tăng 35,8% và nhập khẩu tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt thặng dư thương mại 140 triệu USD. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thâm hụt thương mại trầm trọng vào tháng trước với con số lên đến 7,3 tỉ USD, nên tính theo cả quý 1 năm nay thì Trung Quốc vẫn thâm hụt 1,02 tỉ USD. Trong quý 1 vừa qua, Trung Quốc đã nhập khẩu 400,66 tỉ USD và xuất khẩu 399,64 tỉ USD.

Tác động của lạm phát?

Sau khi Trung Quốc công bố con số thâm hụt trên, có nhiều phân tích đánh giá về sự kiện này. Nhiều đánh giá cho rằng đó là kết quả của việc lạm phát tăng nhanh tại Trung Quốc khiến cho giá thành sản xuất tăng cao, giảm lợi thế cạnh tranh của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Nhưng trong thực tế, Trung Quốc vẫn đạt được thặng dư thương mại trong tháng 3 từ mức thâm hụt đáng kể của tháng trước, bất chấp lạm phát tăng đến con số 5%. Chính vì thế, lạm phát có thể tạo ra tác động đối với cán cân thương mại của Trung Quốc nhưng khó có thể là nguyên nhân chính.

Một nguyên nhân mà nhiều chuyên gia cũng như báo giới quốc tế nhận định đó là chu kỳ mùa vụ khi Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu mạnh mẽ vào giai đoạn đầu năm. Theo đó, các nhà sản xuất Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu nguyên vật liệu chuẩn bị cho việc sản xuất trong khoảng thời gian còn lại của năm. Tháng 3 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã nhập siêu đến 7,24 tỉ USD nhưng tính trên cả năm thì nước này vẫn đạt thặng dư thương mại đến hơn 180 tỉ USD.

Xu hướng nhập khẩu nguyên liệu vào giai đoạn đầu năm cũng đã khiến cho nhập khẩu của Trung Quốc bị tác động đáng kể khi giá cả thế giới tăng cao trong thời gian qua. Theo Reuters, giá cả của nguyên vật liệu và năng lượng “đầu vào” của Trung Quốc đã tăng đến 29,7%. Một số nguyên vật liệu quan trọng cho sản xuất Trung Quốc đã tăng khá cao, ví dụ giá nhập khẩu quặng sắt, nguyên liệu chính của các nhà sản xuất thép Trung Quốc, đã tăng đến 59,5% so với quý 1 năm trước và làm cho giá trị nhập khẩu quặng sắt tăng đến 82%, đạt mức 27,7 tỉ USD, trong khi số lượng quặng sắt nhập khẩu chỉ tăng 14,4%. Đó là chưa kể giá dầu thô tăng cao cũng khiến cho lượng dầu nhập khẩu chỉ tăng 12% nhưng lại tăng đến 39% giá trị, giá trị nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc trong quý 1 đã lên đến 43,7 tỉ USD. Theo ý kiến của chuyên gia Mark Williams của Capital Economics trên Wall Street Journal thì nếu giá cả thế giới không tăng nhanh, Trung Quốc có thể đạt đến 25 tỉ USD thặng dư thương mại trong cả quý 1 năm nay.

Dự báo thặng dư thương mại lớn

Do giá cả thế giới tăng cao là một diễn biến chung của kinh tế toàn cầu, nên kết quả nhập siêu của Trung Quốc thực sự không mang lại nhiều bất ngờ. Ngược lại, con số thặng dư thương mại trong tháng 3 của Trung Quốc là một sự bất ngờ. Theo Reuters, nhiều chuyên gia từng cho rằng trong tháng 3, nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng 19,5% và xuất khẩu sẽ 21% so với cùng kỳ năm trước nên sẽ tạo ra thâm hụt thương mại 4,2 tỉ USD. Còn một khảo sát khác của Bloomberg thì cho rằng thâm hụt thương mại của Trung Quốc trong tháng 3 sẽ vào khoảng 3,35 tỉ USD. Như vậy, kết quả nhập siêu trên cả quý 1 của Trung Quốc vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia.

Chính vì thế, theo nhiều nhận định thì Trung Quốc vẫn đạt được mức thặng dư thương mại đáng kể trong cả năm 2011. Theo Wall Street Journal, chuyên gia kinh tế về Trung Quốc của UBS là Wang Tao cho rằng Trung Quốc sẽ vẫn đạt thặng dư thương mại đến 150 tỉ USD trong năm 2011, còn Xianfang Ren và Alistair Thornton của HIS Global Insight thì cho rằng con số thặng dư thương mại trong năm 2011 của Trung Quốc là 250 tỉ USD.

Ngô Minh Tríđăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 13.04.2011

“BÌNH MINH ODYSSEY”: HÃY CHỜ VÀ XEM

Máy bay thả bom đắt nhất thế giới B2 - Spirit, của không lực Hoa Kỳ, trị giá 2,2 tỷ USD cũng đã tham chiến (ảnh: Rediff)

Khi liên quân, dẫn đầu bởi Mỹ, Pháp, Anh, bắt đầu tấn công Libya bằng không quân, thì rất nhiều ý kiến bình luận xoay quanh sự kiện này. Thế nhưng, để giải mã hoàn toàn những gì đang diễn ra thì không hề đơn giản. Đầu tiên là mục tiêu của cuộc tấn công.

Dầu mỏ được nhiều người nhắc đến như một lý do khiến cho liên quân phát động chiến tranh. Nhiều người cho rằng Hoa Kỳ cùng phương Tây cần một sự đảm bảo lâu dài đối với nguồn cung cấp dầu mỏ của Libya. Thế nhưng, những số liệu thực tế chưa đủ để giả thuyết trên trở nên thuyết phục. Theo số liệu thống kê, sản lượng khai thác của Libya, xếp thứ 10 về trữ lượng tương đương khoảng 3% trữ lượng toàn cầu, chỉ đang chiếm khoảng 2% sản lượng khai thác toàn cầu với mức khai thác dao động từ 1,4 đến 1,8 triệu thùng mỗi ngày. Sản lượng khai thác trên chỉ tương đương mức tăng thêm của nhu cầu hàng năm trên toàn cầu và nhỏ hơn so với mức biến thiên khai thác của OPEC. Khi Libya bất ổn, OPEC đã nhanh chóng đảm bảo năng lực bình ổn thị trường dầu mỏ thế giới. Với thực tế đó, dầu mỏ của Libya khó có thể xem là một mục tiêu cốt lõi hấp dẫn đến mức liên quân phải “dấy động can qua”, dù đó có thể là một trong những lý do.

Hơn thế nữa, không có dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ và phương Tây đã “ngắm nghía” dầu mỏ nên đánh Libya vì rõ ràng là cuộc can thiệp quân sự của liên quân vào Libya lần này không có được sự chuẩn bị lâu dài như những gì Hoa Kỳ từng làm với chiến tranh Iraq vào năm 2003. Ngoài ra, trước khi bất ổn bùng nổ tại Bắc Phi và Trung Đông, mối quan hệ giữa Libya với Hoa Kỳ và phương Tây đang ngày càng trở nên nồng ấm hơn.

Một giả thuyết có thể xem xét trong trường hợp này chính là Hoa Kỳ và phương Tây muốn mượn Libya để đe dọa các quốc gia khác trong vùng nhằm tránh tình trạng đàn áp quá đà. Lúc đầu, khi nội chiến Libya bắt đầu bùng nổ, Pháp, Anh và Mỹ rất hăng hái đề cập đến một “vùng cấm bay” nhưng sự quyết tâm giảm dần theo thời gian. Chỉ đến khi quân nổi dậy từ chổ chiếm ưu thế chuyển sang thế yếu thì một số quốc gia trong vùng lại xem phương pháp của Gaddafi là hiệu quả để giải quyết bất ổn. Các quốc gia Ả Rập đã điều quân đến hỗ trợ Bahrain đàn áp lực lượng nổi dậy, Yemen cũng mạnh tay hơn với lực lượng chống đối. Khi đó, nếu các quốc gia trong vùng này đồng loạt mạnh tay thì bất ổn Bắc Phi và Trung Đông có thể căng thẳng hơn rất nhiều, nhất là khi các bất đồng sắc tộc trong nội bộ người Hồi giáo bắt đầu được đào sâu. Một cuộc xung đột diện rộng là một viễn cảnh hoàn toàn có thể xảy ra. Viễn cảnh ấy xảy ra có thể kéo theo một cuộc khủng hoảng dầu mỏ thực sự và quyền lợi cả về kinh tế lẫn chính trị, quân sự tại khu vực có thể bị lung lây. Trong số các quốc gia đang bất ổn, quan hệ giữa Hoa Kỳ, phương Tây với Libya là lỏng lẻo nhất nên Libya trở thành mục tiêu.

Tuy nhiên, đó cũng vẫn chỉ là một giả thuyết và động cơ thực sự của cuộc chiến vẫn chưa được giải mã trọn vẹn. Khi động cơ chưa được giải mã trọn vẹn thì khó ai có thể phân tích chuẩn xác diễn biến của cuộc chiến để trả lời rằng mức độ can thiệp quân sự sẽ đến đâu? Liên quân có đổ bộ vào Libya hay không? Tất cả đều là ẩn số khó giải. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã quá chán chường với chiến trường Afghanishtan mà họ đang sa lầy cũng như chiến trường Iraq mà họ đang cố thoát ra hoàn toàn. Thế nên, một chiến trường toàn diện mới sẽ là một nước đi đầy rủi ro cho Hoa Kỳ, thêm một chiến trường bị sa lầy sẽ càng khiến nước Mỹ khó khăn hơn. Đó cũng là rủi ro cho sinh mệnh chính trị của ông Obama khi chiến dịch tranh cử cho nhiệm kỳ thứ hai không còn xa. Nếu không có Hoa Kỳ, thì Anh và Pháp hay NATO khó có khả năng đáp ứng một cuộc chiến tranh mà chi phí sẽ là một con số khổng lồ. Chỉ riêng chi phí để thiết lập vùng cấm bay trên cả Libya cũng đã có thể tiêu tốn đến 8 tỷ đô la Mỹ. Thế nhưng, nếu liên quân chỉ hạn chế cuộc tấn công bằng không quân và Gaddafi lại chấp nhận ngưng bắn thực sự thì tương lai của Libya cũng trở thành câu hỏi khó có lời giải đáp, bởi khi đó Libya sẽ tồn tại như thế nào. Ngay cả khi Gaddafi sụp đổ thì số phận của Libya cũng không có điều gì kỳ vọng vào một tương lai tươi sáng và cũng khó có nước nào mạo hiểm “tiếp quản” như đã nói.

Với tất cả những điều trên, cuộc chiến Libya đang là một bài toán khó giải đáp. Nhưng tất nhiên, lãnh đạo của các nước tham chiến, chắc chắn, không thể không nghĩ đến những tình huống vừa nêu. Cho nên, các nước tham chiến, nhất là Mỹ, Anh và Pháp, đã có những dự định nào đó mà họ chưa bộc lộ ra. Chính vì vậy, muốn có câu trả lời chính xác hơn về cuộc chiến ở Libya thì rất cần thêm thời gian để chờ và xem.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo KTSG 24.03.2011

 

CHÂU Á KHÔNG YÊN TĨNH

Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự (ảnh: Xinhua)

Sau khi hé mở về kế hoạch phát triển hàng không mẫu hạm, tên lửa chống hạm rồi chiến đấu cơ tàng hình, Trung Quốc vừa chính thức công bố tăng cường chi phí quân sự thêm 12,7% trong năm tới. Theo đó, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng từ mức 533,4 tỷ nhân dân tệ của năm 2010 lên thành 601,1 tỷ nhân dân tệ (tương đương 91,4 tỷ đô la Mỹ) vào năm 2011. Con số trên đã được phát ngôn viên của quốc hội Trung Quốc là Lý Triệu Tinh công bố ngay trước Quốc dân Đại hội thường niên của nước này. Năm ngoái, Trung Quốc cũng đã tăng ngân sách quân sự năm 2010 lên 7,5% so với năm 2009, dù ngân sách quân sự của Trung Quốc năm 2009 đã tăng gấp đôi so với thời điểm năm 2006.

Nhận xét về việc gia tăng ngân sách quân sự của Trung Quốc, bộ trưởng ngoại giao Nhật vừa từ chức mới đây là Seiji Maehara cho rằng chi tiêu quốc phòng như thế là “rất cao”. Quả thực, việc gia tăng liên tục ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, cùng với việc quân đội nước này đang là lực lượng quân sự hùng hậu nhất thế giới với quân số lên đến 2,3 triệu, đã khiến cho nhiều nước lo ngại là điều dễ hiểu. Từ sớm, các quốc gia khác đã thể hiện sự lo ngại của mình.

Tiêu biểu là Nhật Bản. Cuối năm ngoái, Nhật Bản cũng đã chính thức loan báo kế hoạch chi tiêu quân sự trị giá 279 tỷ đô la Mỹ trong thời gian năm năm. Bên cạnh đó, Nhật Bản đã bắt đầu tái phối trí lực lượng quân sự của mình, chuyển hướng mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên sang Trung Quốc. Một loạt các quốc gia khác trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Myanma, Philippine, Hàn Quốc và cả Úc cũng tiết lộ các kế hoạch tăng cường vũ trang cho quân đội.

Dường như, sự chuẩn bị của các quốc gia cũng không hoàn toàn khó hiểu khi những va chạm trong khu vực liên tục xảy ra gần đây.

Ngày 02.03.2011 vừa qua, Nhật Bản đã điều hai chiến đấu xua đuổi hai máy bay quân sự của Trung Quốc, khi hai máy bay quân sự Trung Quốc đang bay cách 33 dặm so với vùng đảo tranh chấp giữa hai bên, mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Phát ngôn viên chính phủ Nhật Yukio Edano cho rằng tuy Nhật Bản không phản đối chính thức vì hai máy bay quân sự Trung Quốc đã dừng lại ở không phận quốc tế, nhưng ông này đã lo ngại sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc. Mới hơn, vào ngày 07.03.2011, Nhật Bản đã chính thức lên tiếng phản đối về việc một máy bay trực thăng của Trung Quốc đã áp sát tàu chiến Nhật Bản trên biển Hoa Đông.

Trước đó, ngày 02.03.2011, Việt Nam cũng đã chính thức lên tiếng phản đối Trung Quốc tổ chức diễn tập chống cướp biển tại khu vực đảo Trường Sa, vốn được Việt Nam tuyên bố chủ quyền từ lâu. Cũng trong ngày 02.03.2011, Philippine cũng đã cử hai chiến đấu cơ đến bảo vệ tàu thăm dò dầu khí của mình vì cho rằng bị hai tàu tuần tra của Trung Quốc sách nhiễu. Ngày 07.03.2011, ấn bản Manila Times của Philippine cũng đã đăng bài chỉ trích hành động của Trung Quốc vào ngày 02.03.2011 và Philippine cũng cho biết đã mua một tàu tuần tra Hamilton loại lớn của Hoa Kỳ để bảo vệ vùng biển.

Trung Quốc cũng va chạm với cả Hàn Quốc. Ngày 04.03.2011, Hàn Quốc cũng đã chính thức loan báo rằng hải quân nước này đã bắt giữ hai tàu cá của Trung Quốc, bắn chết một thủy thủ vì hai tàu cá trên xâm nhập vùng biển Hàn Quốc và có hành vi sử dụng vũ khí để chống cự. Ngay sau đó, Hàn Quốc cũng công khai cả kế hoạch đẩy nhanh tiến độ mua máy bay do thám tối tân và chiến đấu cơ tàng hình của mình.

Với hàng loạt sự kiện diễn ra liên tục trong thời gian ngắn vừa qua đang khiến cho châu Á trở nên không yên tĩnh và cho thấy rằng nhiều bất đồng đang tiềm ẩn trong khu vực, nhất là các bất đồng về chủ quyền và lãnh thổ.

Ngô Minh Trí

 

THỦ THUẬT CẦM QUYỀN CỦA GADDAFI

Đại tá Gaddafi là lãnh đạo tối cao của Libya, nhưng không có chức vụ gì (ảnh: Reuters)

Bằng sự khéo léo của mình, đại tá Gaddafi đã thiết lập quyền lực tuyệt đối tại Libya dù ông không đảm nhiệm một chức vụ chính thức nào trong chính quyền nước này.

Mới đây, ba phóng viên của BBC, ABC và Sunday Times của Anh đã thực hiện một cuộc phỏng vấn trực tiếp đại tá Gaddafi, lãnh đạo của Libya, trong bối cảnh căng thẳng tại quốc gia Bắc Phi này đang tăng cao. Trong cuộc phỏng vấn, đại tá Gaddafi đã chính thức lên tiếng cho rằng mình chẳng có chức vụ gì để từ chức vì ông không phải vua, cũng không phải tổng thống, hay nắm bất cứ một chức vụ chính thức nào trong chính quyền.

Năm 1969, Gaddfi, lúc này 27 tuổi, đã lãnh đạo một nhóm sỹ quan quân đội thực hiện một cuộc đảo chính để hạ bệ vua Idris cùng hoàng gia và chính thức nắm quyền tại Libya. Khi đó, một Hội đồng chỉ huy Cách mạng được lập ra để cai trị đất nước, hội đồng này do ông Gaddafi giữ chức chủ tịch. Đến năm 1970, Libya chính thức thành lập chính phủ dân sự, đứng đầu là thủ tướng và ông Gaddafi đảm nhiệm chức vụ thủ tướng. Nhưng đến năm 1972, đại tá Gaddafi cũng từ bỏ chức vụ thủ tướng để không còn nắm giữ chính thức một chức vụ nào trong chính quyền. Bắt đầu từ đây, một mô hình chính phủ kép đã hình thành tại Libya.

Về mặt chính thức, chính phủ được hình thành bởi một nhánh lập pháp mà có thể được hiểu là quốc hội, được hình thành từ các Đại hội Nhân dân Địa phương, tập trung đại biểu do các địa phương bầu ra vào mỗi đợt bầu cử theo chu kỳ bốn năm. Từ quốc hội này, chính phủ được thành lập với người đứng đầu là thủ tướng. Tuy nhiên, những người muốn vào quốc hội phải được sự đồng ý từ các thành viên của một Ban cách Mạng. Ban Cách Mạng gồm đại tá Gaddafi, Ủy ban Cách mạng và các thành viên còn lại của Hội đồng Chỉ huy Cách mạng, vốn được thành lập sau cuộc đảo chính 1969. Ban cách mạng này cũng không chính thức là một đảng phái, mà được xem như một ủy ban tối thượng. Thành viên của Ban cách mạng không được bầu ra và cũng không bị khai trừ vì có công “khai quốc”. Đứng đầu Ban cách mạng là đại tá Gaddafi với danh xưng là “Lãnh đạo và người hướng dẫn Anh em của cuộc Cách mạng”.

Tất nhiên, Ban Cách Mạng này cũng không phải là một vương triều hay một tôn giáo, nên một định nghĩa rõ ràng dành cho nó là gần như không có. Cứ như thế, Gaddafi cho rằng đất nước mình cực kỳ dân chủ vì không có đảng phái chính trị và cũng không có hoàng gia, chỉ có quốc hội do dân bầu. Cho nên, dù ai cũng biết ông Gaddafi là lãnh đạo tối cao của Libya thì cũng khó có một câu trả lời ông đang nắm chức vụ gì để có thể bị bãi nhiệm.

Không chỉ khéo léo xây dựng quyền lực cho mình, đại tá Gaddafi cũng khéo léo “lo xa” sự lệ thuộc vào quân đội chính quy, để tránh tình trạng quân đội thay đổi sự ủng hộ. Theo đó, Đại tá Gaddafi không tập trung xây dựng lực lượng quân đội quốc gia, mà tập trung phát triển lực lượng quân sự có cơ cấu phức tạp cho riêng Ủy ban Cách mạng.

Các lực lượng quân sự của Ủy ban Cách Mạng không nằm trong sự quản lý của quân đội chính quy mà do Ủy Ban Cách Mạng trực tiếp lãnh đạo, lực lượng này bao gồm các tổ chức an ninh và “dân quân” do người thân của ông Gaddafi trực tiếp nắm giữ.

Chưa dừng lại ở đó, Gaddafi còn đề phòng cả trường hợp thành phần dân quân gốc Libya quay lưng với mình. Thế nên, đại tá Gaddafi còn xây dựng một đội ngũ lính đánh thuê từ nước khác. Vì là lính đánh thuê đến từ nước khác nên lực lượng này sẽ hoàn toàn “vô cảm” với người dân và đất nước Libya, họ chỉ vì tiền. Nếu chế độ của Gaddafi bị sụp đổ thì lực lượng lính đánh thuê sẽ không có chốn dung thân. Nhờ đó, trong trường hợp quân đội chuyển sang ủng hộ lực lượng chống chính phủ như Ai Cập thì cũng không phải là chấm hết cho ông Gaddafi.

Mô hình chính phủ không chính thức cùng với một lực lượng quân sự không chính thức nhưng đóng vai trò tối thượng không chỉ giúp cho đại tá Gaddafi duy trì quyền lực trong suốt 41 năm qua, mà còn tạo cho ông sự tự tin để ông tuyên bố sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Ngô Minh Trí

BẤT ỔN BẮC PHI VÀ BẤT ĐỒNG MỸ – TRUNG



Một lần nữa, bất ổn tại Bắc Phi đang khắc họ rõ nét bất đồng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc (ảnh: Reuters)

Mới đây, Bắc Kinh đã lên tiếng chỉ trích cho rằng phương Tây, mà đứng đầu là Hoa Kỳ, chính là tác nhân gây nên bất ổn tại Bắc Phi hiện nay. Chỉ trích này có vẻ như rất bất ngờ khi nhiều chính phủ Bắc Phi, đang vấp phải làn sóng chống đối, vốn dĩ là những đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ. Nhưng thực sự thì chỉ trích này không hoàn toàn bất ngờ, mà  ngược lại thì đó  là một dẫn chứng khác cho những bất đồng Mỹ – Trung.

Khi chính phủ Zine El Abidine Ben Ali ở Tunisia sụp đổ và cuộc khủng hoảng chính trị lan sang Ai Cập, nhiều chuyên gia đã nói đến một trật tự mới, mà vai trò của Hoa Kỳ sẽ bị giảm sút, ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhận định đó bắt nguồn từ việc cựu tổng thống Hosni Mubarak là một trong những đồng minh thân cận lâu năm của Hoa Kỳ. Tương tự như thế, nằm trong vòng xoáy bất ổn còn có cả Jordan và Bahrain, hai đồng minh quan trọng khác của Hoa Kỳ. Nếu Jordan là nước được Hoa Kỳ hỗ trợ xây dựng các trung tâm quân sự, thì Bahrain chính là nơi mà Hoa Kỳ đặt một căn cứ hải quân. Vì thế, nếu các chính thể này sụp đổ, người ta có quyền cho rằng vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực sẽ bị giảm sút, nhất là khi các lực lượng chính trị Hồi giáo chống Mỹ như Tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo nâng cao ảnh hưởng trong quần chúng.

Thế nhưng, trong thực tế, Washington, dù muốn dù không, cũng đã lên tiếng ủng hộ các lực lượng biểu tình và kêu gọi không sử dụng bạo lực để trấn áp biểu tình. Phản ứng trên của Washington là điều hiển nhiên bởi họ luôn truyền bá dân chủ, nên không có lý do nào để siêu cường này có thể “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” nếu không muốn bị lên án là đạo đức giả. Ngoài ra, việc Hoa Kỳ ủng hộ lực lượng phản kháng là cần thiết, vì những chính thể kia đã thực sự quá lung lay, và Hoa Kỳ đã có những mối ảnh hưởng khác có thể dùng để thay thế. Ví dụ như người đứng đầu lực lượng quân sự, tiếp quản đất nước thời hậu Mubarak, là Hussein Tantawi vốn cũng có quan hệ rất tốt với Washington. Nhiều ý kiến còn cho rằng có thể Tantawi lại là một Mubarak thứ hai vì quân đội có quyền lực rất mạnh tại quốc gia này và khó ai có thể trả lời chính xác khi nào quân đội sẽ trao trả quyền lực cho chính quyền dân sự.

Trong khi những tổn hại đối với Hoa Kỳ là chưa rõ ràng, thì một số quốc gia đang có quan hệ tốt với Trung Quốc như Iran hay Libya cũng đang rơi vào vòng xoáy bất ổn trên. Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm cách từ chối trừng phạt Iran trong các vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang đầu tư khá nhiều dự án tại Libya, có hơn 30.000 công nhân Trung Quốc đang làm việc tại Libya. Châu Phi cũng là một nơi chứa nhiều lợi ích của Trung Quốc, tổng đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi lên đến 9,3 tỷ đô la Mỹ chỉ tính riêng năm 2009. Thương mại hai chiều Trung Quốc và châu Phi cũng lên đến 91,1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2009, một con số khá cao dù có thấp hơn mức kỷ lục 106,8 tỷ đô la Mỹ vào năm 2008. Chính vì vậy, bất ổn tại Bắc Phi – Trung Đông cũng gây ra tổn hại đối với Trung Quốc.

Bắc Kinh đã phản ứng. Mới đây, theo đài BBC, thì một quan chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức bày tỏ lo ngại những diễn biến tại Bắc Phi và cảnh báo về điều mà Bắc Kinh gọi là: “sự can thiệp của nước ngoài” vào tình hình nội bộ Libya. Hay ông Trần Kí Bình, phó bí thư thuộc Ủy ban chính pháp, Ban chấp hành Trung ương  Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã quy trách nhiệm cho phương Tây và viết trên một tạp chí chuyên ngành rằng: “Các thế lực thù địch từ phương Tây lập mưu đồ chia rẽ, giương cao ngọn cờ bảo vệ nhân quyền để nhúng tay vào các xung đột nội địa”.

Một thực tế khác đang diễn ra, đó là những bất ổn tại Bắc Phi cũng đã ảnh hưởng đến Trung Quốc, nơi mà chính các lãnh đạo cũng thừa nhận rằng  đang có những bất ổn xã hội vì khoảng cách giàu nghèo, nạn tham nhũng và chuyên chế. Cả chủ tịch Hồ Cẩm Đào hay thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đều từng lên tiếng về vấn đề trên, nhiều lần lên tiếng kêu gọi các cấp chính quyền nước này làm hết sức để xoa dịu các mâu thuẫn xã hội và xây dựng “xã hội hài hòa” . Ảnh hưởng của bất ổn ở Bắc Phi lên Trung Quốc là rất thật khi chủ nhật vừa qua Trung Quốc cũng phải ra tay ngăn chặn một lời kêu gọi ẩn danh huy động người dân biểu tình tại 13 thành phố lớn của nước này. Công an Trung Quốc đã bắt giữ một số người bất đồng chính kiến, tăng cường tuần tra và kiểm soát internet, mạng viễn thông.

Chưa dừng lại ở đó, vai trò của internet, trong cuộc khủng hoảng Bắc Phi – Trung Đông lần này, là rất lớn. Nhân cơ hội này, Washington đã lên tiếng kêu gọi tự do trên internet, một bất đồng khác gây nên nhiều xung đột trong quan hệ Mỹ – Trung lâu nay. Ngày 22.02.2011 vừa qua, Thời báo Hoàn Cầu (Global Times) của Trung Quốc đã đăng bài bình luận chỉ trích luận điểm ủng hộ tự do internet của ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và cho rằng những chỉ trích đó bị nhiều người Trung Quốc xem như những lời “đạo đức giả”. Một lần nữa, những bất đồng Mỹ – Trung được khắc họa sâu sắc hơn trong những vấn đề tưởng chừng rất khác nhau trên thế giới.

Ngô Minh Trí – bình luận đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 24/02/2011

 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.