HÀNG KHÔNG GIÁ RẺ: ĐUA NHAU PHÁT TRIỂN ĐỘI BAY

AirAsia là một ví dụ điển hình cho sự phát triển của các hãng hàng không giá rẻ. Ảnh: AFP

Chi phí thấp giúp cho các hãng hàng không giá rẻ thu hút khách hàng song họ cũng phải giải quyết bài toán chất lượng dịch vụ, sự an toàn.

Tháng trước, tại triển lãm hàng không Paris Air Show, hãng hàng không giá rẻ củaMalaysialà AirAsia đã gây chấn động với một đơn hàng kỷ lục về số lượng máy bay đặt mua. AirAsia đã đặt mua 200 chiếc máy bay Airbus A320Neo trị giá lên đến 18,2 tỉ USD. Đầu tháng này, AirAsia đã tuyên bố mở rộng đơn hàng thêm 100 chiếc máy bay, nâng tổng đơn hàng lên thành 300 chiếc máy bay có giá trị 27 tỉ USD. Hiện tại, AirAsia đang có 89 máy bay.

AirAsia đang bay tới 63 điểm đến tại 20 quốc gia và kế hoạt phát triển đội bay hùng hậu của hãng này là nhằm mở rộng các đường bay giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á. AirAsia đang có kế hoạch đưa các nhánh hoạt động của hãng này tại Thái Lan và Indonesia lên sàn chứng khoán tại hai quốc gia trên để huy động vốn nhằm đáp ứng kế hoạch phát triển.

Sự phát triển của AirAsia là một ví dụ điển hình cho sự phát triển của các hãng hàng không giá rẻ. Quy mô các hãng hàng không giá rẻ đang ngày càng phát triển. Theo số liệu của hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA), đội bay của hãng hàng không giá rẻ lớn nhất Hoa Kỳ là Southwest Airlines đang đứng thứ tư thế giới về số lượng máy bay. Cũng tại Paris Air Show vừa qua, hãng hàng không giá rẻ GoAir của Ấn Độ đã đặt mua 72 máy bay Airbus A320Neo trị giá 7,2 tỉ USD. Trước đó, các hãng hàng không giá rẻ khác của Ấn Độ cũng đặt mua các đơn hàng máy bay số lượng nhiều, đó là SpiceJet mua 30 chiếc Boeing 737 – 800 vào tháng 11 năm ngoái và IndiGo mua 180 chiếc Airbus A320neo. Sức hấp dẫn của hàng không giá rẻ cũng khiến cho một đại gia hàng không khác là Japan Airlines quyết định tham gia vào lĩnh vực hàng không giá rẻ bằng cách góp vốn vào một công ty con của Qantas Airways.

Trong khi các hãng hàng không giá rẻ công bố tăng thêm số lượng máy bay thì Tiger Airways Úc bị uỷ ban An toàn hàng không dân dụng Úc cấm bay năm ngày do không đảm bảo an toàn. Lúc đầu, lệnh cấm sẽ hết hiệu lực vào ngày thứ bảy 9.7, nhưng được gia hạn thêm lệnh cấm đến tận ngày 1.8. Áp lực chi phí thấp được cho là một trong những nguyên nhân khiến cho hãng này không đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn vì thiếu các chương trình bảo trì cũng như đào tạo cho phi công một cách hợp lý. Richard Woodward, phó chủ tịch hiệp hội Phi công Úc và quốc tế, nhận xét rằng niềm tin của công chúng đang bị xói mòn mỗi ngày khi lịch bay của Tiger Airways vẫn chưa được công bố.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – SGTT 13.07.2011

HỘI TỤ, TÙY BIẾN VÀ CUỘC ĐUA CỦA CÁC TRÌNH DUYỆT

Thị phần các trình duyệt trong tháng 05-2011 - Nguồn: FavBrowser.com

Khi internet có một vai trò sống còn trong kỷ nguyên công nghệ thông tin thì trình duyệt cũng trở thành ứng dụng phổ biến hàng đầu, vì trình duyệt là phương tiện cốt yếu để truy cập internet. Vì thế, ngày nay, trình duyệt được xem như một ứng dụng kiểu mẫu đại diện cho các ứng dụng trên các thiết bị công nghệ cao.

Bên cạnh đó, sự hội tụ công nghệ cũng đang thể hiện rõ nét hơn trên các thiết bị công nghệ. Khoảng cách về tính năng, ứng dụng giữa các thiết bị như điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính cá nhân ngày càng được thu hẹp hơn. Trong đó, internet là điểm đến quan trọng của sự hội tụ bởi những giá trị ưu việt của nó, các thiết bị đều hướng đến khả năng khai thác kho tàng vô tận của internet. Không chỉ có điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính cá nhân mà cả tivi, máy ảnh, máy chơi nhạc, máy chơi game, thiết bị giải trí đa phương tiện… đều xem khả năng truy cập internet trở thành một tính năng quan trọng, để người sử dụng có thể khai thác, trải nghiệm và chia sẻ một cách dễ dàng thông qua internet.

Như vậy, là một đại diện kiểu mẫu cho các ứng dụng trên các thiết bị công nghệ và các thiết bị công nghệ đang ngày càng có sự hội tụ cao độ, đặc biệt đối với khả năng kết nối internet, nên trình duyệt được đòi hỏi phải có sự hội tụ, cho phép sử dụng dễ dàng trên nhiều thiết bị công nghệ khác nhau. Đây là xu hướng đang dần thể hiện khi các trình duyệt bắt đầu cho phép sử dụng trên nhiều thiết bị khác nhau, nhưng sự hội tụ vẫn chỉ mới phổ biến đối với điện thoại di động, máy tính cá nhân, máy tính bảng chứ chưa nhân rộng ra các thiết bị có khả năng kết nối internet khác.

Tuy nhiên, sự hội tụ là chưa đủ để thể hiện xu hướng của các ứng dụng hay trình duyệt trong tương lai. Chính vì sự đa dạng của các thiết bị công nghệ đòi hỏi trình duyệt một khả năng tùy biến cao để người dùng dễ dàng khai thác. Tùy biến là sự thông minh để thay đổi linh hoạt nhanh chóng theo các đặc trưng của thiết bị như kích thước màn hình, khả năng cảm biến, hệ điều hành…

Nói một cách khác, nếu xu hướng hội tụ giúp đa dạng hóa hỗ trợ cho nhiều thiết bị thì xu hướng tùy biến chính là khả năng biến hóa nhanh chóng để tương thích và tạo ra sự hỗ trợ tối đa cho người sử dụng khi thực thi trên các thiết bị khác nhau. Tất nhiên, tốc độ truy cập vẫn là tiêu chuẩn bắt buộc của các trình duyệt.

Thế nhưng, khi nhìn lại các trình duyệt đang cạnh tranh gay gắt nhau hiện nay trên thị trường, chưa có trình duyệt nào thể hiện một ưu thế vượt trội theo xu hướng hội tụ và tùy biến.

Theo số liệu của Favbrowser (*), thị phần của Internet Explorer vào tháng 05-2011 còn 54,27%, tức thấp hơn nhiều so với con số 95% của năm 2002. Thị phần đang giảm nhưng Internet Explorer vẫn đang dẫn đầu bảng xếp hạng. Tuy nhiên, vị trí dẫn đầu xuất phát từ việc Internet Explorer vốn gắn liền với Window, hệ điều hành phổ biến nhất thế giới, tạo ra thói quen cho người sử dụng, chứ không phải nhờ vào ưu thế vượt trội nào khác.

Nhưng cũng chính vì sự gắn liền đến mức gần như “độc quyền” trong suốt một thời gian dài của Internet Explorer trên Window đã tạo ra cơ hội cho Firefox. Trình duyệt mở Firefox của Molliza đã trở thành một làn gió mới với những cải thiện đáng kể về tốc độ so với Internet Explorer đã nhanh chóng chinh phục nhiều khách hàng ngay từ khi ra mắt vào năm 2004. Tuy nhiên, Firefox dù xếp thứ hai về thị phần các trình duyệt nhưng Firefox chưa phổ biến trên các thiết bị khác với máy tính cá nhân, Firefox cũng chưa thể hiện được xu hướng hội tụ và tùy biến.

Xếp thứ ba với 12,52% thị phần sau chưa đầy ba năm xuất hiện, Chrome có thị phần tăng trưởng nhanh chóng. Sự thành công mà Chrome có được là nhờ vào sự “kề vai sát cánh” của thương hiệu Google, bên cạnh tốc độ thực thi khá tốt so với các đối thủ khác. “Tiếng thơm” của Google đã giúp Chrome nhanh chóng tiếp cận được với người sử dụng. Một ưu điểm không thể không kể đến của Chrome là giao diện đơn giản, thân thiện.

Kế sau Chrome là Safari, trình duyệt “chuyên dụng” cho các thiết bị của Apple như iMac, Macbook, iPhone, iPod Touch, iPhone, iPad… Safari đã thể hiện khả năng hội tụ và tùy biến trên danh mục đa dạng các sản phẩm của Apple. Người dùng có thể dễ dàng trải nghiệm Safari trên các thiết bị trên. Tuy nhiên, chính đặc trưng trong chiến lược kinh doanh của Apple, vốn tạo ra không ít thành công cho thương hiệu Apple, đã “giới hạn” sự hội tụ và tùy biến của Safari. Bởi mọi sự hội tụ và tùy biến của Safari bị đều dừng lại với các sản phẩm của Apple.

Đứng ở vị trí thứ năm về thị phần của trình duyệt là Opera. Được khởi động từ năm 1994 và chính thức có mặt vào năm 1996, Opera là một trong các trình duyệt sớm nhất. Nhìn thấy được thị trường, nhưng khi đó Opera đã chưa thể hiện được một khả năng vượt trội đủ để gây ấn tượng cho người sử dụng trước một Internet Explorer đang làm mưa làm gió trên thị trường. Từ đó đến nay, Opera không ngừng đa dạng, gia tăng tính hội tụ bằng cách phát triển thành nhiều phiên bản khác nhau để sử dụng trên các thiết bị khác nhau. Thế nhưng, Opera vẫn còn thị phần khá khiêm tốn với mức 2,03% trong tháng 05-2011 và thị phần của Opera đang có xu hướng giảm đi. Đó là bởi Opera chưa thể hiện một trải nghiệm nào xuất sắc vượt trội trên các thiết bị, Opera cũng đang thiếu một bệ phóng như Chrome có được từ Google, dù Opera có tốc độ thực thi tốt, giao diện thân thiện.

Khi chưa có trình duyệt nào thể hiện ưu thế vượt trội trong xu hướng hội tụ và tùy biến, thì xu hướng đó sẽ là cơ hội để các trình duyệt đang có thị phần ít hơn có thể vươn lên trong tương lai.

Ngô Minh TríThời báo Vi Tính Sài Gòn 25.06.2011

KẾ HOẠCH KHỐNG CHẾ KHÍ THẢI CỦA CHÂU ÂU BỊ PHẢN ĐỐI MẠNH

Trung Quốc doạ ngừng mua máy bay Airbus A380 để phản đối kế hoạch khống chế khí thải của châu Âu. Ảnh: AP

Nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc cùng nhiều hiệp hội hàng không đã chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch khống chế khí thải của châu Âu. Trung Quốc còn dọa hủy hợp đồng mua máy bay Airbus để chống lại kế hoạch trên.

Mới đây, chính quyền Trung Quốc đã quyết định đóng băng tạm thời kế hoạch mua 10 chiếc máy bay Airbus A380 của Hongkong Airlines. Trước đó, Hongkong Airlines đã gần như hoàn tất thỏa thuận đặt mua 10 máy bay Airbus A380 trị giá 4 tỉ USD tại triển lãm hàng không tổ chức tại Paris vừa qua. Theo Wall Street Journal, một người khá thân cận với phía châu Âu trong đàm phán thương mại trên đã tiết lộ rằng: “Người Trung Quốc nói trực tiếp với chúng tôi rằng các hãng hàng không của họ không được phép giao dịch với châu Âu”.

Hiện tại, quyết định trên của Trung Quốc có thể chưa đủ sức làm tổn thương nhà sản xuất máy bay của châu Âu, bởi Airbus đang có đơn đặt hàng lên đến hơn 3.500 chiếc máy bay của khách hàng toàn cầu. Tuy nhiên, điều đó mang ý nghĩa rất lớn khi Trung Quốc đang là thị trường tăng trưởng lớn nhất toàn cầu. Năm 2009, Airbus đã mở một nhà máy lắp ráp máy bay ở Thiên Tân, Trung Quốc, để khai thác thị trường nội địa của nước này. Airbus cũng đã hy vọng một đơn hàng lớn sẽ được chính thức công bố khi thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo gặp thủ tướng Đức Angela Merkel tạiBerlin(Đức) trong tuần này. Thế nhưng, một trong những người thạo tin cho rằng hợp đồng được dự trù trước đó có thể bị thu hẹp đáng kể hoặc trì hoãn.

Những động thái mới nhất của Trung Quốc được xem là sự trả đũa cụ thể chống lại kế hoạch cắt giảm khí thải mà Liên minh châu Âu (EU) đề ra, bao gồm cả khí thải hàng không. Theo kế hoạch của châu Âu đề ra, bắt đầu từ tháng 1.2012, các hãng hàng không bay đến hoặc đi tại các sân bay thuộc EU đều phải mua các hạn mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên mức quy định và phải chịu một khoản phạt lớn nếu không tuân thủ.

Không riêng Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga cũng chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch trên của EU. Hôm thứ ba tuần trước (21.6.2011), các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng phản đối lần đầu tiên kế hoạch của EU trong cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp Hoa Kỳ – châu Âu, tại Oslo, Na Uy.

Ủy ban hỗn hợp Hoa Kỳ – châu Âu, được thành lập từ một hiệp ước hàng không giữa hai bên vào năm 2007, là một diễn đàn quan trọng để thảo luận về các vấn đề liên quan đến ngành hàng không. Hoa Kỳ đã công khai chống đối kế hoạch trên trong suốt hai năm qua. Các quan chức Hoa Kỳ cho rằng quyết định trên của EU là tiếp cận đơn phương và vi phạm các điều ước quốc tế, xâm phạm quyền tài phán của các quốc gia khác. Một số hãng hàng không của Hoa Kỳ cũng đã nộp đơn kiện EU về kế hoạch trên. Các hiệp hội hàng không từ châu Âu đến châu Á và ngay cả hãng Airbus cũng chỉ trích kế hoạch trên. Tuy vậy, EU vẫn tái khẳng định sẽ không thay đổi kế hoạch đã đề ra.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Sài Gòn Tiếp Thị Online 27.06.2011

HÀNG TRUNG QUỐC GIÁ RẺ: KẾT THÚC Ở MAY MẶC, MỞ RA NƠI MÁY TÍNH

Triển lãm Computex 2011 tràn ngập hàng điện tử Trung Quốc giá rẻ (ảnh: ban tổ chức Computex)

Kết thúc một giai đoạn

Trên báo The Economist, ông Bruce Rockowitz, giám đốc điều hành của Li & Fung, đã nhận xét rằng “Kết thúc thời hàng hóa giá rẻ”. Li & Fung là nhà cung cấp quần áo và các sản phẩm gia dụng phổ biến sản xuất theo đơn hàng từ châu Á cho các hệ thống siêu thị ở phương Tây. Trong lĩnh vực công nghệ thấp mà Li & Fung nổi tiếng, công ty này mua khoảng 4% giá trị xuất khẩu của Trung Quốc để xuất sang Mỹ cùng với một mức độ đáng kể sang châu Âu. Li & Fung hoạt động tại một số nước Đông Á, thường xuyên tìm kiếm các nhà cung cấp hàng giá rẻ và đáng tin cậy, từ túi xách đến những chiếc ghế cao dành cho quầy bar. Cho nên, khi Bruce Rockowitz nói rằng kỷ nguyên hàng hóa giá rẻ của châu Á sắp kết thúc thì ý kiến của ông được nhiều người tin.

Ông Bruce Rockowitz cho rằng nền sản xuất châu Á đã trải qua một số giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 30 năm. Khi Trung Quốc đang đóng cửa dưới thời Mao Trạch Đông, các công ty Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc đã trở nên thành thục trong lĩnh vực sản xuất. Khi Trung Quốc mở cửa vào cuối những năm 1970, các nhà điều hành doanh nghiệp đầy kinh nghiệm của châu Á đã tập trung về miềnNamTrung Quốc. Nhờ được tiếp cận dễ dàng với đất đai và lao động, cùng với cảng biển và trung tâm hậu cần hiệu quả gần Hongkong, họ bắt đầu sản xuất ra những hàng hóa rẻ hơn bao giờ hết và bán chúng ra khắp thế giới.

Trong ba mươi năm tiếp theo, các nhà sản xuất Trung Quốc đã giữ cho lạm phát toàn cầu được kiềm chế. Nhưng giờ đây, Bruce Rockowitz nghĩ rằng giai đoạn đó đã kết thúc. Tiền lương ở Trung Quốc đang tăng rất nhanh. Một làn sóng nhu cầu mới, đặc biệt từ chính Trung Quốc, đang làm cho giá cả hàng hóa tăng đột biến.

Các nhà sản xuất có thể tìm kiếm sự thay thế bằng cách di chuyển sản xuất đến một khu vực mới, như phía Tây của Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Malaysia, Ấn Độ và Indonesia. Nhưng ông Bruce Rockowitz dự báo, không có nơi nào trong các khu vực mới có thể kiềm chế lạm phát được như thời phíaNamcủa Trung Quốc từng làm được. Nhiều nơi trong số đó có mức lương đang tăng và hệ thống hậu cần kém cỏi. Không ai có thể cung cấp sự quy mô và hiệu quả như từng được tạo ra khi các nhà sản xuất tập trung về phía Nam Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của một giai đoạn mới

Tuy nhiên, ý kiến của Bruce Rockowitz  có thể không sai nhưng nó không phản ánh tình hình chung cho tất cả các ngành hàng khác của Trung Quốc. Hàng hóa giá rẻ có thể không còn trong lĩnh vực may mặc và sản phẩm gia dụng nhưng lại đang tăng trong lĩnh vực khác, nhất là sản phẩm công nghệ cao.

Trong ngày 31.05.2011, ngày mà Bruce Rockowitz phát biểu tại Hongkong về việc hóa giá rẻ đã kết thúc, thì cuộc triển lãm hàng năm Computex diễn ra tại Đài Bắc, từ ngày 31.05 đến 04.06.2011, đã thể hiện một tình hình khác. Triển lãm Computex đã nhiều người quan tâm đến mức các khách sạn tại Đài Bắc chật kín, dù giá cả tăng cao.

Trong khi những đại gia hàng đầu trong làng công nghệ thế giới như Apple, hay HTC của Đài Loan đều vắng mặt thì có đến 2000 nhà cung cấp đem đến các thiết bị công nghệ tân tiến giá rẻ, rất nhiều trong số đó đến từ Trung Hoa Đại Lục. Các doanh nghiệp đến từ Trung Hoa Đại Lục đã phô trương thanh thế khi thuê đến 500 gian hàng, tăng từ con số 200 của năm trước. Nhiều công ty đến từ cùng các địa phương vốn nổi bật nhờ vào đồ chơi và sản phẩm dệt may giá rẻ.

Nhiều công ty sản xuất thiết bị công nghệ cao của Trung Quốc đã gây chú ý bằng các sản phẩm siêu rẻ, như BananaU cung cấp máy tính bảng chạy hệ điều hành Android với giá chỉ 100 USD, hay máy tính xách tay dùng hệ điều hành Window có thiết kế giống Macbooks với giá dưới 250 USD.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ham muốn tìm hiểu bất cứ sản phẩm nào mà chi phí sản xuất thấp  hoặc dễ dàng tự động hóa để sản xuất chúng. Nay khi chi phí nhân công tăng cao,  họ đã học cách sản xuất nhiều hơn với ít nhân công hơn. Với sự khuyến khích của chính phủ, vành đai kéo dài từ Thâm Quyến đến Quảng Châu chuyển sang các sản phẩm tinh vi hơn, như sản phẩm điện tử.

Sự phát triển này đã giúp cho các nhà sản xuất hàng công nghệ cao giá rẻ của Trung Quốc đẩy mạnh tốc độ sao chép mẫu mã lẫn tính năng của các sản phẩm công nghệ cao của các thương hiệu nổi tiếng thế giới.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 23.06.2011

NGA: CÁC CÔNG TY INTERNET HƯỚNG RA TOÀN CẦU

Yandex đã tạo nên cơn địa chấn mới ở sàn chứng khoán New York (ảnh: Reuters)

 Sự trỗi dậy của các công ty dotcom của Nga đang cho thấy nền kinh tế Nga nay không chỉ dựa vào dầu lửa và khí đốt.

“Cơn địa chấn” Yandex

Ngày 24.05.2011, sàn giao dịch chứng khoán New York đã chứng kiến một cơn địa chấn khi công ty tìm kiếm trực tuyến Yandex, một phiên bản Google của Nga, đã kiếm được 1,3 tỷ USD trong lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO). Nhờ đó, Yandex đã trở thành công ty dotcom có giá trị IPO lớn nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ kể từ khi Google thực hiện IPO vào năm 2004 đến nay.

Theo Reuters, Yandex đã bán ra tổng cộng 52,2 triệu cổ phiếu, bao gồm 15,4 triệu cổ phiếu phát hành mới và 36,8 triệu cổ phiếu hiện hữu, tương đương 16,2% vốn chủ sở hữu là 321,2 triệu cổ phiếu của Yandex. Với kết quả IPO đó, Yandex đã nhanh chóng đạt được giá trị thị trường lên đến 8 tỷ USD, tức giá trị của nó đã tăng khoảng 500 lần so với năm 2000, khi một nhóm các nhà đầu tư tư nhân do Baring Vostok Capital Partners dẫn đầu đã đầu tư 5 triệu USD để sở hữu 36% cổ phần của Yandex. Chưa dừng lại ở đó, ngay trong ngày giao dịch đầu tiên, giá cổ phiếu của Yandex đã nhanh chóng tăng 55%, đạt 38,84 USD mỗi cổ phiếu, khi thị trường đóng cửa. Theo đó, giá trị vốn hoá của Yandex đã nhanh chóng nhảy vọt lên thành 13,2 tỷ USD chỉ sau một ngày thực hiện IPO.

Được sáng lập bởi nhà toán học Arkady Volozh và nhà địa vật lý học Ilya Segalovich vào năm 1997 tại Nga, Yandex đã nhanh chóng trở thành công cụ tìm kiếm có thị phần lớn nhất tại nước Nga. Năm 2010, Yandex chiếm thị phần hơn 64%, bỏ xa con số 20% của Google, trên thị trường Nga. Không chỉ tăng trưởng mạnh mẽ về mặt thị phần, Yandex cũng đạt được hiệu quả kinh doanh nhanh chóng bởi định hướng chiến lược tập trung phát triển kinh doanh dựa vào quảng cáo. Nếu như Yandex lỗ đến 2 triệu USD trong khi doanh thu chỉ đạt 72.000 USD vào năm 2000 thì công ty này đã nhanh chóng có lãi vào năm 2003. Năm 2010, doanh thu của Yandex đã tăng 43%, đạt 445 triệu USD, so với năm 2009, giúp lợi nhuận tăng đến 90% đạt 135 triệu USD. Trong quý đầu năm nay, lợi nhuận trước thuế của Yandex đạt 37 triệu USD, tạo ra lợi nhuận sau thuế là 29 triệu USD, tăng 62% so với cùng kỳ năm trước.

Nga đâu chỉ có dầu lửa và khí đốt

Đồng sáng lập và cũng là giám đốc điều hành của Yandex là Arkady Volozh được Reuters dẫn trích cho rằng thành công của Yandex là biểu tượng của một nước Nga mới – đổi khác từ một đất nước mà nền kinh tế chỉ tập trung vào năng lượng – và tự hào rằng: “một công ty công nghệ toàn cầu khai sinh tại Nga”. Một bình luận trên tạp chí Forbes cũng nhận định rằng Nga không muốn chỉ là một quốc gia dẫn đầu thế giới về sản lượng khí đốt.

Quả thực, Nga đang là nền kinh tế có thị trường thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ. Theo Forbes,  một nghiên cứu tiến hành bởi công ty tư vấn J’son and Partner của Nga cho thấy Nga đã trở thành thị trường quảng cáo trực tuyến tăng trưởng nhanh nhất trong nhóm các nền kinh tế đang lên BRIC với mức tăng trưởng 42% vào năm 2010, trong khi Trung Quốc chỉ tăng 35% còn Ấn Độ và Brazil cùng tăng 30%. Theo New York Times,  Stephanie Chang, một nhà phân tích về tư vấn IPO cho doanh nghiệp thuộc Renaissance Capital, dự báo rằng giá trị thị trường quảng cáo trực tuyến của Nga sẽ tăng từ 840 triệu USD năm 2010 lên thành 2,3 tỷ USD vào năm 2013. New York Times cũng dẫn trích một báo cáo của tập đoàn tư vấn Boston (BCG) cho biết thị trường internet của Nga lớn thứ hai tại châu Âu, chỉ xếp sau Đức. Báo cáo cũng dự báo thương mại trực tuyến sẽ chiếm đến 3,7% GDP của nước Nga vào năm 2015, tăng gần gâp đôi so với tỷ lệ 1,9% của năm 2009.

Với tiềm năng to lớn đó, không riêng gì Yandex mà nhiều công ty dotcom khác của Nga cũng đang ăn nên làm ra. Cuối năm ngoái, nhà cung cấp email lớn nhất của Nga là Mail.ru cũng đã thực hiện IPO được 912 triệu USD trên thị trường chứng khoán London. Theo The Telegraph, các công ty dotcom của Nga đã biết khai thác hiệu quả sự am hiểu người dùng địa phương để dành được chiến thắng trước các đại gia dotcom của Mỹ ở thị trường nội địa. Nhờ đó, các công ty dotcom của Nga đã ngày càng khẳng định được vị thế của mình để vươn mình trỗi dậy.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 27.05.2011

TRUNG QUỐC TRONG CƠN SỐT DOTCOM

Buổi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của Renren trên sàn chứng khoán New York (ảnh: Reuters)

Với ưu thế là một thị trường lớn cùng những hỗ trợ của chính phủ, các công ty hoạt động trên internet (dotcom) của Trung Quốc đang ngày càng phát triển. Nhưng người ta cũng nghi ngờ vào sự phát triển quá nóng này có bền lâu hay không.

Từng bước độc chiếm thị trường nội địa

Bằng các quy định về điều kiện hoạt động, ví dụ như bắt buộc sử dụng bộ lọc nội dung theo yêu cầu của chính quyền, hay chính quyền ra lệnh chặn vì một lý do nào đó, Trung Quốc đã từng bước làm cho các công ty dotcom của Mỹ dần dần rút lui khỏi thị trường nội địa.

Các công ty Trung Quốc đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường mà các đại gia Hoa Kỳ bỏ lại. Khi Facebook bị chặn tại Trung Quốc thì các “bản sao” nội địa của họ là Renren và Kai Xin Wang đã nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí mà Facebook có được. Mới đây, Renren thông báo rằng nó đã có đến 117 triệu thành viên đăng ký sử dụng. Tương tự như thế, Youku và Tudou cũng đã thay thế Youtube, và Youku đang xếp thứ 8 và Tudou đang xếp thứ 10 trong số những trang mạng phổ biến nhất tại Trung Quốc theo xếp hạng của Alexa. Sau khi, WordPress, Blogger, Twitter “ra đi” thì có ngay Tianya, Sina thay thế. Rồi Bababian Clone cũng đã trở thành bản copy thay thế Flickr tại Trung Quốc. Thị trường hấp dẫn của Google đã có Baidu, Sina, Sohu.

Một trong số ít các công ty dotcom danh tiếng của Mỹ còn trụ lại được tại Trung Quốc là Yahoo, bởi Yahoo đã chọn phương thức đầu tư vào một đại gia dotcom của Trung Quốc là Alibaba để trở thành liên doanh do Alibaba điều hành để khai thác thị trường, mặc dù Yahoo là cổ đông lớn nhất với 43% cổ phần. Thế nhưng, “mối lương duyên” Yahoo – Alibaba có thể sắp đi đến hồi kết khi hai bên đang tranh luận gay gắt về việc Alibaba đã chuyển nhượng công ty con Alipay, một hệ thống thanh toán trực tuyến tương tự Paypal của Ebay, cho tổng giám đốc điều hành Alibaba là Jack Ma. Yahoo cho rằng Alibaba đã thực hiện việc chuyển nhượng mà không thông qua hội đồng quản trị, Alibaba thì cho rằng mình đã thông báo. Đúng sai thế nào chưa rõ nhưng Yahoo đã thiệt hại nặng khi cổ phiếu công ty này giảm giá đến 11%, mất hơn 2,5 tỷ đô la Mỹ trị giá thị trường khi kết thúc phiên giao dịch hôm thứ sáu (13.05.2011), bởi phần lớn kinh doanh của Yahoo đang dựa vào thị trường châu Á và Trung Quốc đóng vai trò then chốt.

Sự rạn nứt của Yahoo và Alibaba có thể trở thành bước khởi điểm cho việc đổ bể của liên doanh này khi Alibaba đã tỏ ý muốn mua lại cổ phần của Yahoo ở Alibaba trong thời gian gần đây. Có thể, Alibaba cảm thấy không còn cần đến vai trò của Yahoo nữa vì nay Alibaba đã quá lớn mạnh, giá trị thị trường của Alibaba lên đến 26 tỷ đôla Mỹ vào thời kỳ đỉnh cao. Nếu điều đó xảy ra, các công ty dotcom của Mỹ xem như chẳng còn gì đáng kể trên thị trường Trung Quốc. Khi đó, các công ty dotcom Trung Quốc xem như đã độc chiếm thị trường nội địa, bởi áp lực cạnh tranh với các công ty dotcom nước ngoài hầu như chỉ đến từ các công ty của Mỹ.

Cơn sốt mới

Ngày 04.05.2011 vừa qua, Renren, một phiên bản Facebook của Trung Quốc, đã chứng tỏ cho thấy các công ty dotcom Trung Quốc đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn khi nó huy động được 743 triệu đôla Mỹ trong lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO) trên thị trường chứng khoán New York. Trong ngày đầu tiên giao dịch, cổ phiếu của Renren đã tăng giá đến 29%, một mức tăng rất ấn tượng.

Thành công của Renren có thể không là gì khi so với việc Alibaba đã thực hiện IPO được 1,7 tỷ đô la Mỹ vào năm 2007 để trở thành công ty dotcom có giá trị IPO lớn nhất kể từ sau khi Google thực hiện IPO vào năm 2004. Tuy nhiên, đồng hành cùng Renren còn có nhiều công ty dotcom khác của Mỹ cũng đang có kế hoạch IPO đầy tham vọng, và thị trường chứng khoán Mỹ nằm trong đích ngắm của họ, nên China Daily đã hào hứng cho rằng “các doanh nghiệp hoạt động trên mạng của Trung Quốc đang tấp nập IPO trên thị trường Hoa Kỳ”.

Theo China Daily, NetQin Mobile Inc, một nhà sản xuất phần mềm bảo mật cho điện thoại di động của Trung Quốc, cũng đã nối tiếp thành công của Renren sau đúng một ngày. Tiếp đến, Jiayuan.com, một dịch vụ hẹn hò trực tuyến, hay Phoenix New Media có các trang ifeng.com, 3g.ifeng.com, v.ifeng.com, rồi Taomee Inc chủ sở hữu của trang www.61.com, và công ty Xunlei, công ty Youku.com Inc… cũng sẽ thực hiện IPO trên thị trường chứng khoán Mỹ. China Daily dẫn lời Qiu Yanying, chuyên gia phân tích của công ty tư vấn đầu tư TX, rằng: “Renren rõ ràng là ngôi sao sáng trong đợt IPO này của các công ty Trung Quốc tại thị trường Mỹ”.

Danh sách các công ty dotcom Trung Quốc muốn thực hiện IPO sẽ còn dài ra trong thời gian sắp tới. Wall Street Journal đã dẫn lời chuyên gia Neil Shen cho biết có khoảng 15 đến 20 công ty dotcom của Mỹ có kế hoạch thực hiện IPO với giá trị từ một tỷ đô la Mỹ trở lên trong thời gian tới. Neil Shen là đồng sáng lập viên của quỹ đầu tư Sequoia Capital China và là một người có nhiều kinh nghiệm về các công ty dotcom Trung Quốc, từng thành công với công ty kinh doanh du lịch qua mạng tại Trung Quốc là Ctrip.com, công ty này cũng đã niêm yết trên sàn Nasdaq, Hoa Kỳ.

Bong bóng dotcom thứ hai?

Thế nhưng, sự phát triển quá nóng của các công ty dotcom Trung Quốc đang đặt ra vấn đề liệu chăng đang có một bong bóng dotcom thứ hai sau cuộc đổ bể của các công ty dotcom Mỹ vào năm 2000. Zhang Chaoyang, chủ tịch cổng thông tin lớn của Trung Quốc có niêm yết trên sàn chứng khoán New York là Sohu.com, nhận xét với China Daily rằng: “Các công ty Mỹ đã thổi vào bong bóng dotcom cách đây 10 năm, giờ đến các công ty Trung Quốc”.

Trong thực tế, cơn sốt IPO của các công ty Trung Quốc cũng đã không kéo dài quá lâu. Giá cổ phiếu của Renren sau khi tăng đến 29% đạt 18,1 đô la Mỹ vào ngày 05.05.2011 thì đã liên tục giảm và giá chỉ còn chưa đến 13 đô la Mỹ vào ngày 17.05.2011, tức thấp hơn cả mức giá 14 đô la Mỹ trong ngày thực hiện IPO. Tương tự như thế, giá cổ phiếu của NetQin đã nhanh chóng giảm từ mức 11,5 đô la Mỹ trong ngày IPO xuống còn 9,3 đô la Mỹ  sau đó vài ngày.

Một số phân tích cho rằng giới đầu tư cũng như các công ty dotcom Trung Quốc đã kỳ vọng quá mức. Đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện IPO của Renren đã kỳ vọng rằng Renren sẽ đạt được giá trị bốn tỷ đô la Mỹ, tức gấp 67 lần so với doanh thu ròng 76,5 triệu đô la Mỹ mà công ty này có được trong năm 2010. Trong khi đó, tỷ lệ này đối với Facebook chỉ là 25 lần khi Facebook được kỳ vọng sẽ thực hiện được IPO khoảng 50 tỷ đô la Mỹ và doanh thu trong năm 2010 của Facebook là 2 tỷ đô la Mỹ. Không riêng gì Renren mà các công ty khác của Trung Quốc đều đặt tỷ lệ này khá cao, Baidu và Sina đều có tỷ lệ khoảng 50. Ngoài ra, kết quả kinh doanh hiện tại của các công ty dotcom Trung Quốc vẫn chưa thực sự hấp dẫn. Renren vẫn còn lỗ 64,1 triệu đô la Mỹ trong năm 2010 dù doanh thu đã tăng thành 76,5 triệu đô la Mỹ từ mức 46,7 triệu đô la Mỹ của năm 2009 và 13,8 triệu đô la Mỹ năm 2008. Neil Shen cho rằng so với các công ty dotcom của Mỹ thì các công ty dotcom Trung Quốc thường mất nhiều thời gian hơn để có lợi nhuận.

Chính vì thế, các nghi ngại về một bong bóng dotcom thứ hai bắt nguồn từ Trung Quốc là hoàn toàn hợp lý.

Ngô Minh Trí  - đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 19.05.2011

NHẬT BẢN: SÓNG THẦN ĐẨY SẢN XUẤT RA NƯỚC NGOÀI

Sản phẩm làm ra bị động đất và sóng thần vùi dập ở Nhật Bản khiến các doanh nghiệp muốn chuyển hoạt động ra nước ngoài (Ảnh: NYT)

Cơn thiên tai kép vừa qua cùng với cuộc khủng hoảng hạt nhân đã khiến ngành công nghiệp Nhật Bản phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiểm ẩn và những tác hại lâu dài. Chính vì thế, các doanh nghiệp nước này đang xem xét chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài.

Cuộc khủng hoảng thiên tai và hạt nhân lần này tại Nhật Bản không chỉ phá sập những tòa nhà, san phẳng các thành phố mà còn tác động mạnh đến nền kinh tế. Một tháng sau cơn thảm họa, hoạt động sản xuất tại Nhật Bản vẫn còn bị đình trệ vì cơ sở hạ tầng hư hại và nguồn cung cấp điện không đáp ứng đủ. Về lâu dài, thiên tai vẫn là mối đe dọa mà nền sản xuất Nhật Bản không ứng phó nổi.

Chính vì những tác động lâu dài đó, các doanh nghiệp Nhật Bản đang xem xét đến việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài. Ông Heizo Takenata, Bộ trưởng kinh tế Nhật Bản vào đầu những năm 2000, nhận xét: “Động đất và sóng thần làm tăng nguy cơ của Nhật Bản” và “điều đó thúc đẩy thêm nhiều công ty nhanh chóng di chuyển các nhà máy ra nước ngoài”.

Dù cho Nhật Bản được biết đến với khả năng thích nghi cao các thảm họa thiên nhiên như sóng thần và động đất thể hiện qua khả năng phục hồi nhanh chóng sau cuộc động đất tại Kobe vào năm 1995, nhưng quy mô của thảm họa hiện nay lớn hơn nhiều.

Theo nhận định của ông Takenata thì Nhật Bản mất đến 5% vốn liếng trong thiên tai vừa qua, cao hơn nhiều so với 2% trong cuộc động đất tại Kobe. Ngoài ra, bức xạ lan rộng từFukushimalà điều chưa từng có. Lần này, Nhật Bản cũng khó có khả năng phục hồi như lần trước khi hiện tại nước này đang trong tình trạng nợ nần tăng cao và có ít thuận lợi hơn các đối thủ tại châu Á.

Một ví dụ là Công ty Renesac Electronic của Nhật Bản, là một trong những nhà sản xuất bộ vi xử lý hàng đầu thế giới.

Trước khi động đất xảy ra, Renesac Electronic đã thuê gia công tại nước ngoài khoảng 8% số chip của nó và dự kiến tăng tỷ lệ này lên thành 25% vào năm 2013. Nhưng hiện nay sau động đất, Renesac lập kế hoạch tăng tỷ lệ này lên cao hơn nữa và cho biết đang đàm phán để đưa việc sản xuất bộ vi xử lý điều khiển xe hơi, vốn đang được sản xuất toàn bộ tại Nhật Bản, sang một nhà máy tại Singapore thuộc sở hữu của GlobalFoundries Inc có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ. Renesas lo ngại việc trì trệ trong sản xuất có thể khiến nó mất đi các hợp đồng từ các nhà sản xuất ô tô thế giới.

Horio Seisakusho Co là nhà sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau, là một công ty chỉ có 52 công nhân nhưng chiếm đến 30% thị phần thiết bị quang học trong các đầu đĩa Blu-ray và đĩa phim. Mặc dù Horio Seisakusho Co hiện đang có hai nhà máy tại Trung Quốc và chưa có kế hoạch chuyển dịch ngay sản xuất ra nước ngoài nhưng công ty này cũng chịu một áp lực và giống như nhiều công ty khác.

Masahiko Horio, Tổng giám đốc của Horio Seisakusho Co, nói rằng: “Có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ giống chúng tôi tại khu vực này, một số chủ doanh nghiệp lo ngại sẽ mất đi công việc làm ăn nếu không giao hàng đúng hẹn”. Mặc dù việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài không phải đơn giản, nhưng mọi công ty bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn đều có kế hoạch thực hiện.

Xu hướng này sẽ càng trở nên phổ biến hơn, khi nhiều công ty từng cam kết rằng các công ty Nhật Bản nên sản xuất ngay trong nước, nhưng trong thực tế vẫn có kế hoạch chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài ngay cả khi chưa xảy ra thảm họa. Một trong những lý do của sự dịch chuyển này là chi phí lao động cao cùng những quy định chặt chẽ về môi trường của Nhật Bản.

Những bất ổn do thiên tai gây ra càng làm cho xu thế chuyển dịch sản xuất đó mạnh thêm lên. Tập đoàn xe hơi Nissan là một ví dụ. Dù Nissan chỉ sản xuất 25% số lượng xe hơi của mình tại Nhật Bản, nhưng đã chuyển việc sản xuất nhiều mẫu xe ra nước ngoài từ năm ngoái. Nissan cũng cho biết sẽ tạm thời nhập khẩu động cơ V6 từ nhà máy ở Decherd, Tennessee, Hoa Kỳ, thay cho sản lượng bị giảm đi sau khi nhà máy tại Iwaki bị hư hại thay vì nỗ lực khôi phục nhà máy này.

Yoshio Ishizaka, cựu cố vấn điều hành của Toyota Motor, nói rằng: “Tôi nghĩ rằng vẫn đang có một số khu vực thuộc nền công nghiệp Nhật Bản nên xem xét việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài”. Mặc dùToyotalên tiếng phủ nhận, nhưng nhiều nguồn tin cho rằng hãng ô tô này sẽ đóng cửa nhiều cơ sở cũ của nó tại Nhật Bản.

Cách khu vực xảy ra động đất hàng trăm dặm, Công ty Nakayama Iron Works Ltd, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất máy nghiền đá, băng tải dây đai, máy tái chế nhựa đường dùng trong xây dựng đường sá, cũng đang tìm kiếm các nhà cung cấp tại Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan để đảm bảo nguồn cung cấp các linh kiện quan trọng vốn được sản xuất tại Nhật Bản.

Tất nhiên, khi xu hướng chuyển dịch thực sự diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia có ưu thế về nhân công, chi phí sản xuất thấp sẽ chính là những điểm đến hấp dẫn cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Việt Nam, có quá trình hợp tác lâu dài với các doanh nghiệp Nhật Bản, có thể tận dụng cơ hội mới này để đẩy mạnh công nghiệp hóa nếu biết cải thiện nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và môi trường pháp lý.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 14.04.2011

THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TỬ – ĐIỆN MÁY: BỨC TRANH NHẠT

(ảnh: sohoa.net)

Mặc dù được biết như một thị trường sôi động với nhiều sản phẩm mới liên tục xuất hiện, tạo được sự quan tâm của người tiêu dùng, nhưng kết quả nghiên cứu thị trường cho thấy bức tranh của thị trường điện tử, điện máy cũng như thiết bị công nghệ trong năm 2010 không phải là đặc sắc.

Mới đây, Công ty Nghiên cứu thị trường GfK đã chính thức công bố kết quả khảo sát các nhãn hiệu dẫn đầu thị trường Việt Nam năm 2010 ở các ngành hàng điện tử tiêu dùng, điện máy cũng như các sản phẩm công nghệ. So với năm 2009, kết quả khảo sát của GfK cho thấy không có nhiều thay đổi về các nhãn hàng dẫn đầu thị trường.

Nokia tiếp tục dẫn đầu thị trường điện thoại di động Việt Nam, một vị trí Nokia đã liên tục nắm giữ trong nhiều năm qua. Mặc dù GfK không công bố các con số chi tiết của các nhãn hiệu trên thị trường điện thoại di động, nhưng theo giới kinh doanh thì các thương hiệu điện thoại di động do doanh nghiệp Việt Nam phát triển như Q.Mobile,F-Mobile đã có những bước tăng trưởng đáng kể, gây áp lực lên thị phần của các thương hiệu lớn. Tương tự ngành điện thoại di động, nhiều ngành hàng khác như lò vi sóng (Sanyo), màn hình máy tính (Samsung), máy điều hòa không khí ( Panasonic), máy tính để bàn (Compaq)… cũng không có sự thay đổi về vị trí quán quân trên thị trường.

Cuộc soán ngôi nổi bật nhất thuộc về Acer, khi nhãn hàng này chính thức vượt qua HP để dành vị trí quán quân trên thị trường máy tính xách tay. Vị trí dẫn đầu của Acer tỏ ra rất vững chắc khi nhãn hàng này có đến ba sản phẩm nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất trên thị trường Việt Nam trong năm qua.

Ngược lại, HP không những đánh mất vị trí dẫn đầu, mà hãng này cũng không có bất cứ sản phẩm nào nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất trong năm. Dell cũng tạo được dấu ấn đáng kể trên thị trường máy tính xách tay năm 2010 khi ba vị trí thứ bảy, thứ tám và thứ mười của nhóm mười sản phẩm đều thuộc về thương hiệu này. Nhãn hàng “anh em” của HP là Compaq tuy đứng đầu bảng trên thị trường máy tính để bàn nhưng chỉ có một sản phẩm duy nhất nằm trong danh sách mười sản phẩm bán chạy nhất trên thị trường máy tính xách tay.

Bên cạnh đó, do có sự thay đổi về tiêu chí nghiên cứu, nên đã có sự thay đổi kết quả ở một số ngành hàng.

Năm 2009, vị trí quán quân ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số thuộc về Canon. Trong năm 2010, ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số, ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số đã được chia thành 2 nhóm là máy ảnh kỹ thuật số du lịch do Sony dẫn đầu và máy ảnh kỹ thuật số ống kính rời do Canon dẫn đầu. Tuy nhiên, tính chung cho cả ngành máy ảnh kỹ thuật số thì Sony tạo được ấn tượng tốt khi có đến bốn sản phẩm nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất, trong khi Canon chỉ có ba. Các sản phẩm máy ảnh kỹ thuật số của Sony chiếm lĩnh các vị trí nhứ nhất, nhì, bảy và chín, còn các sản phẩm của Canon chiếm ba vị trí liên tiếp là bốn, năm, sáu.

Sự thay đổi cách đánh giá cũng xuất hiện trong ngành hàng máy in. Năm 2009, GfK đã phân chia máy in thành 2 ngành hàng nhỏ là máy in đa chức năng và máy in đơn chức năng với vị trí quán quân lần lượt thuộc về HP và Canon. Trong kết quả nghiên cứu năm 2010, GfK lại phân chia máy in thành hai ngành hàng là máy in phun và máy in Laser. Với sự thay đổi cách thức phân chia như trên, Canon đã dẫn đầu thị trường máy in laser và Epson đứng đầu thị trường máy in phun, trong khi HP lại mất tên ở ngành hàng máy in nói chung bên cạnh ngành hàng máy tính xách tay.

Cũng theo số liệu của GfK, hầu hết các ngành hàng đã không có được những con số tăng trưởng ấn tượng. Trong đó, sản phẩm máy tính để bàn tiếp tục cho thấy những dấu hiệu của sự bão hòa. Số lượng máy tính để bàn bán ra đã giảm từ 531.520 máy năm 2009 xuống 438.250 máy năm 2010.

Mặc dù không bị giảm sút nhưng ngành hàng máy thiết bị văn phòng có sự tăng trưởng khá chậm. Ví dụ như ngành hàng máy in chỉ tăng trưởng khiêm tốn, từ mức 223.000 máy bán ra trong năm 2009 tăng lên 227.000 máy năm 2010, hay dòng máy in đa chức năng cũng chỉ tăng trưởng từ mức 53.000 máy bán ra năm 2009 lên 54.800 máy trong năm 2010.

Thị trường máy ảnh kỹ thuật số có phần tươi sáng hơn khi lượng tiêu thụ của tháng 12-2010 đạt đến 38.600 máy so với con số 31.900 máy của tháng 12-2009. Sự tăng trưởng chỉ thực sự ấn tượng ở ngành hàng máy tính xách tay và các loại màn hình tivi LCD,plasma. Số lượng máy tính xách tay bán ra đã tăng nhanh từ con số 31.180 chiếc của tháng 12-2009 lên 51.960 chiếc trong tháng 12-2010. Hay tổng số màn hình LCD và Plasma cũng tăng gần 50% từ mức 104.000 chiếc bán ra trong tháng 12-2009 lên 149.000 chiếc trong tháng 12-2010.

Ngô Minh Tríđăng trên trang 28, 29 Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 07.04.2011

THỊ TRƯỜNG ĐTDĐ 2010: SÔI ĐỘNG NHỜ GIÁ RẺ

Thị trường điện thoại di động 2010 sôi động nhờ những sản phẩm đa tính năng giá rẻ

Mặc dù thị trường điện thoại di động năm 2010 tăng trưởng không nhanh như kỳ vọng, nhưng nhờ sự xuất hiện của nhiều model điện thoại di động cao cấp cũng như các model trang bị bàn phím QWERTY hay kết nối Wifi giá rẻ đã giúp cho thị trường trở nên sôi động hơn.

Bức tranh tổng thể thị trường

Ban đầu, giới kinh doanh và nghiên cứu thị trường ngành điện thoại di động (ĐTDĐ) dự đoán thị trường năm 2010 sẽ tăng trưởng ở mức 40%, nhưng trong thực tế thì thị trường chỉ tăng khoảng 30%, mức tăng vẫn cao hơn con số 25% của năm trước. Nhưng vẫn còn kém xa so với những thời điểm mà thị trường từng tăng 70% đến 100% của các năm trước.

Theo số liệu từ một công ty nghiên cứu thị trường có uy tín thì con số thống kê mới nhất trên thị trường cả nước là doanh số tháng 11.2010 đạt 1,033,296 máy, tăng khoảng 28% so với doanh số 804,825 máy của tháng 11.2009. Tổng thị trường mười một tháng đầu năm đạt khoảng 11,3 triệu chiếc ĐTDĐ. Tuy nhiên, nhờ mức giá trung bình của máy bán ra tăng lên nên doanh thu bán ra tăng đến 40% so với năm trước. Trong đó, thị trường lớn nhất của cả nước là thành phố Hồ Chí Minh đã có tốc độ tăng trưởng đáng kể, số lượng máy bán ra vào tháng 11.2010 là 268.190 tức tăng khoảng 18% so với con số 227,284 máy. Thành phố Hồ Chí Minh đang là thị trường có xu hướng bảo hòa vào các năm qua. Năm ngoái, doanh số bán ra tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh gần như không tăng lên so với một năm trước đó. Dù không tăng trưởng nhanh nhưng thị trường thành phố Hồ Chí Minh vẫn dẫn đầu với thị phần dao động từ 26% đếm 29% tính trên tổng thị trường cả nước, chiếm 28% đến 32% thị phần tính theo giá trị doanh thu. Hà Nội tiếp tục là thị trường lớn thứ hai với thị phần chiếm khoảng 16% đến 18% số lượng bán ra, 19% đến 23% tính theo giá trị doanh thu.

Khi thị trường tăng trưởng chậm, nhiều người nghĩ rằng vai trò của các hệ thống bán lẻ tăng lên, nhưng trong thực tế thì ngược lại. Cách đây hai năm, các chuỗi bán lẻ chiếm đến 36% thị phần tính theo số lượng, thì đến tháng 11.2010, các chuỗi giảm chỉ còn chiếm 30% thị phần tính theo số lượng, đây cũng là con số của tháng 11.2009. Không những thế, thị phần tính theo giá trị doanh thu của các hệ thống bán lẻ đã giảm từ 35%, vào tháng 11.2009, xuống còn 31% vào tháng 11.2010. Như vậy, trong suốt một năm qua, thị phần tính theo số lượng của các hệ thống bán lẻ đã không tăng lên, dù nhiều hệ thống lớn như Thế Giới DI Động đã rầm rộ khai trương nhiều điểm mới hay thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Kênh phân phối theo mô hình nhỏ lẻ truyền thống vẫn đang chiếm ưu thế trên thị trường.

Các model đa tính năng: sôi động

Giống như các năm trước, phân khúc điện thoại di động có giá từ 500.000đ đến 1.000.000đ vẫn chiếm ưu thế với thị phần dao động từ 25% đến 30%. Nếu tính chung cho các dòng ĐTDĐ phân khúc có giá từ 1.000.000đ trở xuống thì tổng thị phần xấp xỉ 45%, hay tính chung mức giá có giá dưới 2.000.000đ thì tổng thị phần xấp xỉ là 70%, nhưng tính theo giá trị thì phân khúc giá dưới 2.000.000đ chỉ chiếm 34%. Trong khi đó, so với cùng kỳ năm trước, phân khúc có mức giá từ 6 triệu trở lên đã có thị phần tính theo số lượng bán tăng từ mức 4% lên thành 6%, thị phần tính theo giá trị tăng từ 22% lên thành 27%. Hay phân khúc có giá trên 10 triệu cũng tăng thị phần tính theo số lượng từ mức 1% lên thành 2%, thị phần tính theo giá trị cũng tăng từ 9% lên 13%.

Nếu phân theo tính năng, ĐTDĐ trang bị tính năng nghe MP3 đã tăng thị phần liên tục trong hai năm qua, nhất là trong năm vừa qua. Nếu thị phần của ĐTDĐ có tính năng Mp3 chỉ chiếm 50%, tính theo số lượng, vào tháng 11.2008 thì con số này vào tháng 11.2009 là 62% và đến tháng 11.2010 đã đạt đến 79%. Mức độ phổ biến của ĐTDĐ có tính năng MP3 đã gần đuổi kịp ĐTDĐ trang bị màn hình màu đang chiếm 85% vào tháng 11.2010. Các dòng ĐTDĐ có kết nối bluetooth cũng đã tăng thị phần, tính theo số lượng, từ mức 55% lên thành 60%. ĐTDĐ có tính năng chụp hình cũng tăng thị phần từ 60% lên 67%, ĐTDĐ có hai camera có thị phần 9% trong tổng số máy bán ra.

Tuy chưa có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo giới kinh doanh điện thoại di động thì các model trang bị kết nối wifi cũng đang có số lượng bán ra và thị phần tăng nhanh. Đó là kết quả của việc ngày càng có nhiều model trang bị kết nối wifi với mức giá phải chăng hơn, các thương hiệu mới xuất hiện trong vài năm trở lại đây như Wellcom, F-mobile, K-Touch cũng đã cho ra mắt các model trang bị kết nối wifi. Tuy nhiên, nổi trội nhất trong năm qua chính là sự xuất hiện của Nokia C3, trang bị bàn phím QWERTY, kết nối wifi với mức giá dưới 2.800.000đ tạo dấu ấn lớn trên thị trường. Sự xuất hiện của Nokia C3 còn khiến cho các hãng khác như Samsung và LG cũng nhanh chóng giới thiệu các dòng điện thoại di động có giá bán dưới 3.000.000đ nhưng trang bị kết nối wifi, như:  LG Cookie 3G KM500, LG Seine C320i, Samsung B3410W, samsung S3353…

Năm qua cũng là một năm sôi động ở phân khúc điện thoại di động có giá trên 6 triệu khi hàng loạt model trong phân khúc này đã xuất hiện. Nokia đã giới thiệu hai model nổi bật là: Nokia N8, Nokia C7; Samsung thì đưa ra các tân binh như: Samsung S8530 Wave II, S8500 Wave, Galaxy 3… Sony Ericsson góp mặt với: xperia X10, Xperia X8, Vivaz pro… HTC thì có các model cao cấp mới như: Desire, Wildfire, Legend… Dell cũng chính thức hiện diện với dell Streak. Trong đó, tuy chịu nhiều ý kiến trái ngược nhau, nhưng Nokia N8 vẫn là model “hot” trên thị trường, không thua kém độ “hot” của iPhone 4 vào giai đoạn giữa năm. Chính nhờ sự cạnh tranh mạnh mẽ ở phân khúc cap cấp này, thị trường điện thoại di động đã trở nên sôi động hơn trong khi tổng thị trường đang tăng trưởng chậm.

Ngô Minh Trí – đăng trên trang 34-35, Thời báo KTSG 03.03.2011

 

DOANH NGHIỆP VÀ VĂN HÓA NƯỚC NHÀ

Ảnh minh họa cho bài trên TB.KTSG

Mới đây, người viết bài này đã tham dự lễ khai trương của một doanh nghiệp Việt Nam là đối tác của một thương hiệu toàn cầu đến từ Nhật Bản. Tiếc thay, nét đặc trưng văn hóa Nhật Bản với những cô gái kiều diễm xúng xính trong những bộ kimono lại là chủ điểm của chương trình, trong khi chương trình được tổ chức tại Việt Nam.

Dẫu biết doanh nghiệp Việt Nam muốn thể hiện thành ý của mình dành cho phía đối tác Nhật Bản, nhưng nếu có sự xuất hiện của tà áo dài Việt Nam bên cạnh những bộ trang phục kimono thì có lẽ sẽ vẹn toàn hơn. Khi đó, không chỉ cả văn hóa Nhật Bản và Việt Nam đều được tôn vinh, góp phần thể hiện sự kết hợp hài hòa văn hóa hai nước, mà còn thể hiện cả sự tự hào dân tộc của doanh nghiệp Việt Nam.

Có người cho rằng đó chỉ là một thiếu sót nhỏ, nhưng thiết nghĩ, việc giữ vững những giá trị văn hóa nước nhà lại bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt nhất. Có câu chuyện nói rằng, chỉ vì người chăn ngựa quên thay móng cho ngựa mà con ngựa đã quỵ dọc đường, làm cho tin chiến trận không về đến kinh thành kịp lúc, kết quả là nước mất nhà tan. Cho nên, chỉ cần buông lỏng những giá trị văn hóa dân tộc cơ bản là chúng ta sẽ bị văn hóa nước ngoài xâm thực mạnh mẽ. Hiện nay, hòa trong sự hiện diện của các sản phẩm, doanh nghiệp, thương hiệu quốc tế, văn hóa ngoại quốc đang ngày càng xuất hiện tràn lan trong nước.

Vì vậy, chính những doanh nghiệp Việt Nam, là đối tác của các doanh nghiệp nước ngoài, ngay từ đầu cần có ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam. Hơn thế, với những doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp xúc với nước ngoài, sẽ là lực lượng góp phần giữ vững văn hóa truyền thống của nước nhà.

Trở lại sự kiện khai trương doanh nghiệp nêu trên, trong khi phía đối tác Nhật Bản nỗ lực thể hiện sự thân thiện bằng bài hát chủ đề cho thương hiệu của họ có nội dung thể hiện tình yêu đối với nước Việt, thì phía doanh nghiệp của chúng ta lại không thể hiện rõ lòng tự hào đối với văn hóa nước nhà, cũng như chưa biết kết hợp hài hòa văn hóa dân tộc mình với văn hóa của đối tác! Thiết nghĩ, đó cũng là cách để các đối tác tôn trọng chúng ta.

Nhìn vào các doanh nghiệp Nhật Bản, họ luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của mình và biến thành một sức mạnh mềm trong quan hệ với các đối tác trên toàn cầu. Cũng nhờ đó, họ được doanh nghiệp trên toàn thế giới đánh giá cao. Cho nên, những nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam cũng cần hiểu rằng văn hóa nước nhà là yếu tố có thể tạo nên sức mạnh vô hình cho doanh nghiệp, nếu biết cách gìn giữ và phát huy.

Một quốc gia dù có phát triển đến đâu, hội nhập đến mức nào thì sự phát triển chỉ bền vững khi có những giá trị riêng. Ngay cả Hoa Kỳ là một quốc gia đa sắc tộc nhưng vẫn cố tạo cho mình một nét văn hóa riêng mang tên “Giấc mơ Mỹ” để kêu gọi mọi người nỗ lực làm việc thì cơ hội luôn có cho những ai chịu phấn đấu. Cũng vậy, Việt Nam muốn vững mạnh thì phải biết cách gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bởi đó là giá trị tinh thần trọng yếu.

Sự quan trọng của văn hóa truyền thống nước nhà là điều không có gì phải bàn cãi. Thế nên, trong thời đại hội nhập như hiện nay, văn hóa nước nhà cần phải được giữ gìn, khi mà những làn sóng văn hóa ngoại quốc đang xâm nhập mạnh mẽ. Trong đó, lực lượng doanh nhân đóng vai trò quan trọng không kém bất cứ thành phần nào.

Hoàng Đìnhđăng trên TB Kinh Tế Sài Gòn 06.01.2011

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.