HẢI CHIẾN – TỪ LỊCH SỬ ĐẾN HIỆN ĐẠI: TÀU TO, SÚNG LỚN VẪN THUA

Tàu hộ tống lớp Gepard 3.9 – Ảnh: Wikipedia

Thời gian qua, tôi quá bận nên không có thời gian chăm sóc trang blog này. Loạt bài HẢI CHIẾN – TỪ LỊCH SỬ ĐẾN HIỆN ĐẠI gồm 06 kỳ, đăng trên báo Thanh Niên. Bạn nào có hứng thú, xin xem các kỳ còn lại tại đây:

Kỳ 2: Ưu thế cận chiến

Kỳ 3: Xu hướng phòng vệ mới

Kỳ 4: Không quân, vai trò không thể thiếu

Kỳ 5: Kẻ hủy diệt dưới nước

Kỳ 6: Định vị và dò tìm: điểm quyết định

Kỳ 1: Với chiến thuật phù hợp thì các lực lượng không có tàu to, súng lớn vẫn có thể chiến thắng những đối thủ với khí tài vượt trội.

Trên chiến trường, không phải lúc nào các lực lượng lớn với nhiều khí tài vượt trội cũng luôn giành ưu thế. Một nguyên tắc cơ bản là mỗi lực lượng quân sự luôn có những điểm mạnh yếu khác nhau, bên nào khai thác hiệu quả các điểm này thì sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng. Với các trận hải chiến cũng vậy, nếu có chiến thuật phù hợp thì vẫn có thể giành chiến thắng dù vũ khí không bằng đối phương.

Hải chiến Thuận An 1643

Theo các sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn (NXB Văn hóa Sài Gòn) và Đại Nam thực lục (NXB Giáo dục), hải quân của chúa Nguyễn ở Đàng Trong từng chiến thắng oanh liệt trước lực lượng tàu chiến hiện đại của Công ty Đông Ấn Hà Lan.

Bắt đầu từ năm 1641, tàu chiến của Hà Lan liên tục cướp phá, quấy rối và hăm he tấn công Đàng Trong. Tháng 5.1642, Công ty Đông Ấn Hà Lan cử nhiều tàu chiến “khủng” đi lùng bắt dân chúng, cướp bóc, đốt phá ở khu vực duyên hải miền Trung hiện nay. Tháng 7.1643, 3 tàu chiến Hà Lan tiến vào cửa Thuận An, thuộc Thừa Thiên – Huế ngày nay. Đây đều là những tàu lớn, có lực lượng binh lính được chọn lọc kỹ càng và trang bị đại bác có sức công phá mạnh. Để đối phó, Chúa Nguyễn Phúc Lan tập trung quần thần lấy ý kiến. Khi hỏi một người Hà Lan đang giúp việc, người này đã dương dương tự đắc rằng: “Tàu Hà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của trời thôi”. Câu trả lời này khiến Chúa Nguyễn Phúc Lan cảm thấy bị xúc phạm và ông quyết định tự mình thân chinh, cùng con trai là Thế tử Nguyễn Phúc Tần, tiến đánh 3 tàu chiến Hà Lan ở cửa Thuận An.

Lực lượng hải quân của Đàng Trong di chuyển trên các thuyền nhỏ nên tính cơ động cao, nhanh nhẹn, dễ dàng tiếp cận tàu địch. Các thuyền Đàng Trong đã bao vây, tấn công quyết liệt vào tàu chiến Hà Lan, mặc dù một số thuyền bị trúng đạn đại bác. Kết quả, cả 3 tàu chiến của Công ty Đông Ấn Hà Lan đều thua tan tác, chiếc thì nổ tung, chiếc thì bị chìm và chỉ có một chiếc chạy thoát. Từ đó về sau, Công ty Đông Ấn Hà Lan không còn dám cử tàu chiến bén mảng đến Đàng Trong. Đó là lần đầu tiên thủy quân ViệtNamđánh thắng một lực lượng thủy quân từ châu Âu.

Nhỏ vẫn hiệu quả

Với các nước mà lực lượng hải quân đóng vai trò phòng thủ, bảo vệ chủ quyền chứ không nhằm bành trướng, tấn công các nước khác, thì việc sở hữu tàu chiến lớn không quá cần thiết. Ngược lại, các tàu chiến nhỏ với khả năng tác chiến linh hoạt sẽ là những khí tài hữu hiệu, có nhiều ưu thế nhất định trước các tàu chiến lớn. Cho nên, các tàu khu trục nhỏ, tàu hộ tống cũng đủ sức bảo vệ chủ quyền.

Điển hình như tàu hộ tống lớp Gepard 3.9 với độ rẽ nước tiêu chuẩn 1.500 tấn có tốc độ di chuyển lên đến 28 hải lý/giờ (tương đương 50 km/giờ), theo website Russian-ships.info. Gepard 3.9 được trang bị tổng cộng 8 ống phóng tên lửa chống tàu, 1 ống phóng tên lửa đối không, 1 bệ 12 ống phóng tên lửa chống ngầm, 4 ống phóng ngư lôi, súng pháo, súng máy. Tàu hộ tống Gepard 3.9 còn có bãi đáp trực thăng chiến đấu. Với trang bị đó, tàu hộ tống Gepard 3.9 đủ sức tác chiến chống lại máy bay, tàu nổi, tàu ngầm không thua kém các tàu khu trục lớn.

Tất nhiên, các tàu khu trục lớn, tàu tuần dương có lợi thế với các hệ thống tên lửa tầm xa. Tuy nhiên, với các nước có bờ biển dài thì các hệ thống tên lửa trên bộ đủ tầm tác chiến chống lại các khu trục hạm lớn của đối phương xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của mình. Như vậy, các tàu chiến nhỏ phối hợp cùng hệ thống tác chiến trên bờ sẽ vẫn đủ sức đảm bảo nhiệm vụ phòng thủ mà không lo ngại các lực lượng hải quân hùng mạnh.

Ngô Minh TríThanh Niên 4.8.2011

* Công ty Đông Ấn Hà Lan

Công ty này được thành lập vào năm 1602 tại Hà Lan, được quốc hội nước này cho phép độc quyền thực hiện các hoạt động thực dân tại châu Á trong 21 năm. Có ảnh hưởng sâu rộng trong chính phủ, Công ty Đông Ấn Hà Lan có khả năng khai chiến, thương lượng các hiệp ước, đúc tiền và thành lập thuộc địa thay cho chính phủ. Vì thế, công ty được trang bị nhiều tàu chiến, khí tài chiến tranh hiện đại vào lúc bấy giờ nên đã chinh phục thành công nhiều vùng ở châu Á trước khi sụp đổ vào thế kỷ 18.

THẾ TRẬN HẢI QUÂN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG: TƯƠNG LAI CỦA TÀU SÂN BAY

Tàu sân bay Mỹ USS John C.Stennis (trái) song hành cùng tàu sân bay Anh HMS Illustrious – Ảnh: Wikipedia

Sở hữu tàu sân bay chỉ là bước đầu của cuộc chơi tốn kém nhưng nhiều nước vẫn tiếp tục chạy đua dù tương lai của khí tài này đang bị thách thức.

Sự quan tâm dành cho tàu sân bay đặc biệt tăng lên trong thời gian gần đây khi Trung Quốc liên tục “lộ hàng” về tàu sân bay đầu tiên của mình. Tàu sân bay được nhắc đến ở nhiều góc độ khác nhau như: làm sao vận hành hiệu quả, đâu là khắc tinh của nó… Tất cả khắc họa nên bức tranh toàn cảnh về tàu sân bay và cả tương lai của loại khí tài này.

Cũng năm bảy hạng

Hình ảnh những chiếc tàu sân bay hoành tráng của Mỹ dễ khiến nhiều người nghĩ rằng tàu nào cũng to lớn như thế. Nhưng thực tế không phải như vậy bởi tàu sân bay các nước khác khó có thể so bì với Mỹ. Tất nhiên, tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc cũng không ngoại lệ khi nó được chắp vá, tân trang lại từ xác tàu Varyag do Ukrainebán rẻ.

Tính luôn tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc, thế giới hiện có 9 quốc gia sở hữu tổng cộng 22 tàu sân bay, riêng Mỹ sở hữu một nửa trong số đó. 11 tàu sân bay của Mỹ đều dùng năng lượng hạt nhân, không giới hạn tầm hoạt động và 20 năm mới nạp năng lượng một lần, với 10 chiếc thuộc lớp Nimitz và 1 chiếc thuộc lớp Enterprise. Tàu sân bay lớp Nimitz có độ rẽ nước 100.000 – 110.000 tấn và tàu sân bay lớpEnterprisecó độ rẽ nước 93.000 tấn. Cả hai lớp này đều mang được khoảng 90 máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng. Từ năm 1975 đến nay, Mỹ luôn có thêm tàu sân bay mới trong mỗi 2 đến 6 năm, theo website Global Security.

Trong khi đó, trong tất cả tàu sân bay của các nước còn lại, chỉ duy nhất tàu Charles de Gaulle (Pháp) dùng năng lượng hạt nhân và không tàu nào có độ rẽ nước quá 60.000 tấn hay có thể mang quá 50 máy bay. Phần lớn trong số đó chỉ mang được khoảng 30 máy bay các loại.

Ngoài ra, với kích thước lớn và di chuyển không linh hoạt, tàu sân bay rất dễ bị tấn công bởi các tàu chiến hay máy bay. Cho nên, tàu sân bay cần phải phối hợp hoạt động với các tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm để đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả. Đó là điều không phải lực lượng hải quân nào sở hữu tàu sân bay đều có thể làm được.

Cuộc đua mới

Gần đây, nhiều nguồn tin cho rằng Trung Quốc đang đóng mới một tàu sân bay tên Bắc Kinh, theo tờ Yomiuri Shimbun. Thêm vào đó, cách “bóng gió” không minh bạch của Bắc Kinh về chuyện này càng thu hút dư luận. Tuy nhiên, nhiều phân tích từ các chuyên gia cho thấy năng lực thực sự của tàu sân bay Trung Quốc vẫn còn lắm thách thức. Ngay cả khi Trung Quốc có tàu sân bay mới, nhưng nếu chỉ tương đương quy mô của chiếc Thi Lang thì cũng mới ngang bằng các tàu sân bay hiện tại của Nga, Pháp, và vẫn thua xa Mỹ. Trong khi đó, nhiều nước cũng đang đóng các tàu sân bay hiện đại hơn nhiều.

Trong Báo cáo về đánh giá chiến lược an ninh và quốc phòng đệ trình lên hạ viện và Nữ hoàng năm 2010, Thủ tướng Anh David Cameron đã nhấn mạnh đến vai trò của các tàu sân bay mới của Anh. Theo kế hoạch, Anh đang phát triển lớp tàu sân bay mới tên Queen Elizabeth với hai chiếc là HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales. Tàu sân bay lớp Queen Elizabeth có độ rẽ nước lên đến 65.000 tấn và có thể mang theo 40 máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm F-35 Lightning II, máy bay trực thăng Apache. Năm 2009, Anh đã tiến hành đóng tàu sân bay HMS Queen Elizabeth, theo BBC. Chiếc tàu trên được dự đoán sẽ chính thức hạ thủy vào khoảng năm 2014. Còn tàu sân bay HMS Prince of Wales sẽ hạ thủy vào năm 2016.

Không riêng gì Anh, Pháp cũng đang xúc tiến dự án tàu sân bay mới có độ rẽ nước lên đến 75.000 tấn, tầm hoạt động 10.000 hải lý, có thể mang theo 32 máy bay chiến đấu Rafale. Ấn Độ thì đang hăm hở với dự án hai tàu sân bay lớp Vikrant có độ rẽ nước 40.000 – 60.000 tấn, tầm hoạt động 7.500 hải lý, mang theo được khoảng 30 máy bay chiến đấu. Các tàu sân bay mới của Ấn Độ được kỳ vọng sẽ hạ thủy vào năm 2017 – 2018.

Nổi bật hơn cả trong cuộc đua tàu sân bay vẫn là Mỹ với ba tàu sân bay mới, có tên Gerald R.Ford, John F.Kenedy và một chiếc chưa được đặt tên, thuộc lớp Gerald R.Ford dự kiến hạ thủy lần lượt vào 2015, 2019, 2023. Tàu sân bay lớp Gerald R.Ford sử dụng năng lượng nguyên tử để thay thế dần cho tàu sân bay lớp Nimitz, nhưng có nhiều cải tiến để tăng cường tính linh hoạt.

Tương lai?

Mặc dù tàu sân bay vẫn đang hấp dẫn nhiều quốc gia, nhưng Nga, một cường quốc quân sự lâu năm, đang hướng đến tàu tuần dương có thể mang nhiều máy bay và tác chiến linh động hơn. Trong tương lai gần, Nga đã sẵn sàng xây dựng các tàu tuần dương mang được 30 – 40 máy bay, theo website RusNavy. Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã giao cho Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ trên với kỳ vọng sẽ nhanh chóng có được kết quả vào năm 2013 – 2015. Vũ khí chính yếu của tàu tuần dương không phải là máy bay chiến đấu, mà là các tên lửa tầm xa và vũ khí tác chiến quy mô lớn. Đó chính là điểm khác biệt giữa tàu tuần dương mang máy bay với tàu sân bay.

Bản thân tàu tuần dương đã được trang bị hệ thống phòng không và tấn công đa nhiệm nên sẽ có thể tác chiến độc lập. Mặt khác, các tàu tuần dương trên vẫn có thể chứa được máy bay Su-33 và có đường băng đặt dọc theo thân tàu. Dự án này từng được Nga đặt ra vào những năm 1980 nhưng bị tạm hoãn. Với những ưu thế vừa nêu, tuần dương hạm mang máy bay sẽ là một thách thức lớn cho tàu sân bay trong tương lai.

Ngô Minh TríThanh Niên 31.7.2011

THẾ TRẬN HẢI QUÂN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG: SÂN CHƠI CỦA TÀU CHIẾN TỐI TÂN

Tàu khu trục JDS Atago của Nhật Bản – Ảnh: Navy.forces.gc.ca

Các lực lượng hải quân ở châu Á – Thái Bình Dương không ngừng tăng thêm tàu hiện đại có khả năng tác chiến đa nhiệm mạnh mẽ.

Hiện nay, dư luận đang chú ý đến tàu sân bay sau khi Trung Quốc có thể sắp hạ thủy tàu sân bay đầu tiên của nước này. Trong “câu lạc bộ tàu sân bay” châu Á – Thái Bình Dương nổi bật nhất hiện nay dĩ nhiên là tàu sân bay USS George Washington thuộc Hạm đội 7 hải quân Mỹ. Ngoài ra, còn phải kể đến tàu sân bay loại nhỏ HTMS Chakri Naruebet của Thái Lan. Tuy nhiên, thế trận hải quân trong khu vực không chỉ là cuộc chơi của tàu sân bay. Các loại tàu khu trục, tàu hộ tống cũng rất được chú trọng phát triển. Với lo ngại về tàu sân bay của Trung Quốc, nhiều nước cũng đang tăng cường tàu ngầm, vốn được xem là khí tài chống tàu sân bay khá đắc lực, theo Reuters.

Sắp tới, Nga có thể sẽ cho góp mặt hai tàu đổ bộ đa năng lớp Mistral của Pháp trên Thái Bình Dương. Tàu Mistral được trang bị hệ thống phóng tên lửa, súng máy, mang theo được 16 – 35 máy bay lên thẳng, 50 – 70 xe bọc thép… Một số nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nga cho biết nước này có thể sẽ biên chế hai tàu này vào Hạm đội Thái Bình Dương, theo Itar-Tass hồi tháng 2.

Tàu khu trục dày đặc Đông Bắc Á

Trong khi Trung Quốc ở khu vực này có khoảng 16 tàu khu trục lớn, thì Nhật Bản có đến 40 chiếc, Hàn Quốc có 11 chiếc và hàng chục chiếc của Hạm đội 7 hải quân Mỹ.

Tuy không nổi danh như các tàu khu trục của Mỹ tại đây, nhưng nhiều tàu khu trục của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng hiện đại không kém. Nổi bật phải kể đến tàu khu trục JDS Atago và JS Ashigara thuộc lớp Atago của Nhật Bản có giá trị lên đến 1,5 tỉ USD, theo Global Security. Tàu khu trục lớp Atago được trang bị các hệ thống tên lửa đa nhiệm hiện đại bậc nhất, ví dụ như hệ thống Aegis, đủ sức đánh phá trên không, trên biển và cả trên bộ. Lớp tàu Atago có thể mang theo trực thăng chuyên dụng chống tàu ngầm.

Hàn Quốc lại tự hào với hai tàu khu trục Sejong the Great và Yulgok Yi I thuộc lớp King Sejong the Great. Lớp này có chi phí chế tạo xấp xỉ 1 tỉ USD và cũng trang bị các loại tên lửa đa dạng, súng pháo để đối không, đối hải, và hệ thống tên lửa Aegis thời thượng.

“Khắc tinh” tàu sân bay

Reuters dẫn lời chuyên gia Rory Medcalf thuộc Viện Nghiên cứu chính sách Lowy ở Sydney (Úc), cho rằng tàu sân bay Trung Quốc đã kích thích số lượng tàu ngầm trong khu vực tăng lên.SingaporevàMalaysiahiện là hai quốc gia sở hữu các tàu ngầm tân tiến trong khu vực.

Năm 2009 và 2010,Singaporeliên tục tiếp nhận hai tàu ngầm lớp Archer do Thụy Điển đóng, nâng tổng số tàu ngầm củaSingaporelên 6 chiếc. Ưu điểm của các tàu ngầm lớp Archer là khả năng di chuyển cực êm, hệ thống định vị chuẩn xác, trang bị đến 9 ống phóng ngư lôi. Còn Malaysia sở hữu hai tàu ngầm thuộc lớp Scorpene do Pháp chế tạo, có khả năng tác chiến linh hoạt với 6 ống phóng ngư lôi và có thể hoạt động liên tục trong 50 ngày. Trong số khoảng 20 tàu ngầm của mình, Nhật rất tự hào với 3 tàu lớp Soryu có kích thước lớn, nhưng di chuyển êm, có 6 ống phóng ngư lôi và hệ thống đánh lừa bằng âm thanh.

Tàu hộ tống của ASEAN

Phù hợp với phạm vi Đông Nam Á, các nước ASEAN trang bị nhiều tàu chiến nhỏ hơn tàu khu trục nhưng hiệu quả tác chiến cao như tàu hộ tống, tàu khu trục nhỏ và tàu đổ bộ.

Hải quânIndonesiacó các tàu hộ tống thuộc lớp Ahmad Yani do Hà Lan đóng, có thể chiến đấu đa nhiệm trên biển lẫn trên không và các chiến hạm thuộc lớp Sigma với khả năng tác chiến linh hoạt. Các tàu chiến củaIndonesiađều được trang bị nhiều hệ thống tên lửa, súng pháo đa dạng.

Tàu chiến nổi bật củaSingaporelà 6 tàu hộ tống lớp Formidable do Pháp chế tạo, có thể mang theo trực thăng chống tàu ngầm, di chuyển với tốc độ 27 hải lý mỗi giờ. Các tàu này được trang bị nhiều ống phóng tên lửa chống hạm, chống máy bay, ngư lôi, pháo Otobreda 76 ly và súng máy 12,7 ly dùng trong cận chiến.

Ngô Minh Trí – Thanh Niên 30.7.2011

* Các loại tàu chiến

Phân loại tàu chiến chỉ mang tính chất tương đối và có thể thay đổi theo đặc điểm hải quân mỗi nước.

Tàu sân bay: Tàu chiến kích thước lớn, có thể mang theo nhiều máy bay chiến đấu hay máy bay trực thăng.

Tàu tuần dương: Tàu chiến cỡ lớn, có tầm hoạt động rất rộng, có thể di chuyển nhiều tháng và trang bị nhiều loại tên lửa tầm xa.

Tàu khu trục: Là tàu chiến nhỏ và trang bị hạn chế hơn tàu tuần dương, có khả năng tác chiến linh hoạt.

Tàu khu trục nhỏ, tàu hộ tống: Là các loại tàu chiến cỡ nhỏ hơn tàu khu trục nhưng khả năng tác chiến cũng rất linh hoạt.

Tàu đổ bộ: Là tàu chiến chuyên chở lính, khí tài có thể đổ bộ lên sát bờ biển. Tàu đổ bộ cũng có thể được trang bị một số vũ khí để tác chiến trên biển nên được xem như tàu chiến lưỡng dụng.

* Một số thuật ngữ

- Độ choán nước (còn gọi là độ rẽ nước) là khối lượng nước mà tàu sẽ chiếm khi chở tối đa trọng tải. Nói cách khác thì độ choán nước bằng tổng trọng tải cộng với khối lượng thân tàu.

- Lớp tàu chiến có thể được hiểu như một thế hệ, phiên bản tàu chiến.

- Hải lý là đơn vị đo chiều dài trên biển, 1 hải lý tương đương 1,852 km.

THẾ TRẬN HẢI QUÂN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG: CÁC CĂN CỨ CHIẾN LƯỢC

Tàu chiến và máy bay thuộc Hạm đội 7 của Mỹ tập trận ngày 22.7 – Ảnh: C7f.navy.mil

Phạm vi triển khai tác chiến của các căn cứ đóng vai trò quan trọng trong thế trận hải quân dày đặc ở châu Á – Thái Bình Dương.

Dù khả năng tác chiến của các căn cứ đang được nâng lên nhưng hải quân Trung Quốc phải bao quát một khu vực rất rộng, chạy dọc theo bờ Thái Bình Dương của nước này.

Trong khi đó, dù hoạt động trên khắp Thái Bình Dương nhưng năng lực của các căn cứ hải quân Mỹ vẫn rất mạnh mẽ, nổi trội vì có thể nhanh chóng kết hợp tác chiến toàn diện và có nhiều khí tài hiện đại. Các căn cứ thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga cũng rất đáng gờm nhờ kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong khu vực và nhiều tàu chiến hùng mạnh. Về phía các lực lượng hải quân của các nước ASEAN, khu vực đảm trách được chia nhỏ, khí tài phù hợp với đặc trưng riêng của từng quốc gia là những ưu thế đáng kể.

Trung Quốc

Ba hạm đội hải quân Trung Quốc là Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải có khoảng 15 căn cứ hải quân, theo các website chuyên về an ninh quốc phòng Global Security và Sinodefence. Hạm đội Bắc Hải có 3 căn cứ với 8 tàu khu trục lớn, 4 tàu khu trục nhỏ, 5 tàu ngầm hạt nhân và khoảng 15 – 20 tàu ngầm dùng động cơ điện kết hợp diesel, chủ yếu hoạt động ở Bột Hải, Hoàng Hải và vùng biển tiếp giáp với Nga. Hạm đội Đông Hải có 7 căn cứ, 8 tàu khu trục lớn, 27 tàu khu trục nhỏ, 7 tàu ngầm động cơ điện kết hợp diesel và 7 tàu đổ bộ, đảm trách khu vực thuộc biển Hoa Đông.

Nam Hải đang là hạm đội thu hút nhiều sự chú ý bởi đảm trách khu vực thuộc biển Đông. Hạm đội này có từ 5-7 căn cứ hải quân, 5 căn cứ không quân và căn cứ chính đặt tại Quảng Châu. Hạm đội Nam Hải sở hữu 11 tàu khu trục lớn, 18 tàu khu trục nhỏ, 8 tàu ngầm động cơ điện kết hợp diesel thuộc lớp Minh. Hạm đội này có một tàu đốc chuyển quân cỡ lớn, 11 tàu đổ bộ có tốc độ 14 hải lý/giờ với tầm hoạt động 3.000 hải lý, 4 tàu đổ bộ cỡ trung, 6 tàu vận chuyển lính và 1 tàu bệnh viện.

Theo tạp chí quân sự Jane’s Intelligence Review, Trung Quốc đang có căn cứ tàu ngầm HảiNam, nằm gần Tam Á trên đảo HảiNam, là trung tâm điều hành các tàu ngầm tấn công của hạm đội Nam Hải. Jane’s Intelligence Review nhận định căn cứ này quá gần với mạng lưới giao thông đường biển khu vực Đông Nam Á và do đó gây nên quan ngại vượt xa tầm khu vực. Báo Indian Express thì dẫn lời một số chuyên gia quân sự Ấn Độ cho biết căn cứ này sẽ cho phép Trung Quốc cắt đứt đường giao thông thương mại tại biển Đông và eo biển Malacca (Ấn Độ Dương) trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.

Mỹ

Hạm đội 7 thuộc Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương có ba căn cứ chính trong khu vực phía tây Thái Bình Dương với khoảng 50 – 60 tàu chiến, 350 máy bay và đồn trú khoảng 60.000 nhân sự. Ưu điểm của Hạm đội 7 chính là khả năng tác chiến linh hoạt từ ba căn cứ ởYokosuka,Saseboở Nhật Bản và Apra Harbor ởGuam. Chỉ riêng căn cứYokosukađã là một tổ hợp chiến đấu hùng mạnh với 1 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương và 7 tàu khu trục.

Hỗ trợ cho lực lượng ởYokosukalà lực lượng ở căn cứSasebovới nhiều tàu khu trục, tàu đổ bộ cỡ lớn có khả năng vận chuyển hàng ngàn lính cùng khoảng 35 máy bay trực thăng. Căn cứSasebocòn được xem là một căn cứ hậu cần với đội tàu vận tải hùng hậu. Còn căn cứ tạiGuamlà nơi đồn trú nhiều tàu ngầm đa nhiệm. Ngoài ra, các căn cứ không quân có khả năng bao phủ khắp vùng Đông Á và có thể can thiệp trực tiếp đến khu vực Đài Loan tạo nên một sức mạnh tác chiến lớn.

Vì thế, các căn cứ thuộc Hạm đội 7 có khả năng triển khai và tác chiến linh hoạt, kết hợp giữa lực lượng hải quân, không quân lẫn lính thủy đánh bộ để tham gia các cuộc chiến tranh toàn diện.

Nga

Hạm đội Thái Bình Dương của Nga trong khu vực này có căn cứ chính đặt tạiVladivostok. Hạm đội này, lấyVladivostoklàm nền tảng, có một đội tàu chiến hùng hậu gồm các khu trục hạm, tuần dương hạm, tàu đổ bộ và tàu ngầm hạt nhân cỡ lớn. Hầu hết, các tàu chiến lớn thuộc Hạm đội Thái Bình Dương Nga đều có thể phóng tên lửa hạt nhân. Ngoài ra, Nga được cho là đang xây dựng một căn cứ trên 4 hòn đảo đang tranh chấp với Nhật Bản. Giới quan sát đánh giá động thái này không chỉ để đối phó Nhật và khẳng định chủ quyền mà đằng sau còn có một chủ ý sâu xa trước sức mạnh đang lên của Trung Quốc, theo tờ Ukrainian Week.

Ngô Minh TríThanh Niên 29.7.2011

THẾ TRẬN HẢI QUÂN CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

Sơ đồ vị trí một số căn cứ hải quân lớn trong khu vực – Đồ họa: Thái Nguyên

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang là nơi tập trung của nhiều thế lực hải quân hùng mạnh.

Những tranh chấp trên các vùng biển Hoa Đông, Hoàng Hải, biển Đông đang thu hút sự quan tâm chú ý của thế giới. Xét về mặt địa chính trị, khu vực châu Á – Thái Bình Dương còn là những tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, nổi bật có eo biển Malacca chiếm 1/4 lưu lượng giao thông hàng hải thế giới.

Thêm vào đó, tham vọng trỗi dậy của hải quân Trung Quốc cũng là yếu tố khiến khu vực thường “nổi sóng”. Tất cả những điều đó giải thích tại sao nhiều lực lượng hải quân hùng mạnh đang hiện diện tại châu Á – Thái Bình Dương.

Lực lượng hải quân của Mỹ và các nước đồng minh được bố trí trải dài từ vùng biển phía nam của Nga cho đến vùng lục địa phía dưới của Úc. Xét về chiều ngang, lực lượng Mỹ và đồng minh có tầm hoạt động phủ khắp Thái Bình Dương. Trong khi đó, ba hạm đội của Trung Quốc chỉ mới đảm bảo tầm hoạt động ở ba vùng biển chính là Hoàng Hải, Hoa Đông và biển Đông.

Giới quan sát nhận định, với sự bố trí của các hạm đội và căn cứ quân sự trong khu vực, con đường thoáng nhất để Trung Quốc có thể vươn ra Thái Bình Dương chính là khu vực biển Đông và vùng biển lân cận Đài Loan. Đó được cho là một trong những lý do khiến Trung Quốc tăng cường các động thái đơn phương trong chiến lược thâu tóm biển Đông thời gian gần đây.

Mỹ và các đồng minh

Vốn chú trọng đến châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ luôn hiện diện đông đảo tại đây với nhiều căn cứ quân sự ởGuam,Hawaii,Yokosuka,Singapore. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương gồm Hạm đội 3, Hạm đội 7 và một số lực lượng khác, được đặc phái cho khu vực này. Trong đó, Hạm đội 7 là một lực lượng hải quân hỗn hợp với tàu khu trục, tàu tuần dương, tàu sân bay, tàu ngầm… chuyên trách vùng biển tiếp giáp châu Á. Hạm đội 7 có ba căn cứ chính là Yokosuka, Sasebo ở Nhật và Apra Harbor ở Guam cùng một số căn cứ hỗ trợ khác, theo tuần báo Jane’s Defense Weekly.

Bên cạnh lực lượng hải quân, quân đội Mỹ còn có nhiều căn cứ lính thủy đánh bộ và không quân trong khu vực để có thể kết hợp tác chiến toàn diện. Tại Okinawa (Nhật Bản), căn cứ không quân Futenma của Mỹ được ví như một “hàng không mẫu hạm không thể chìm”. Máy bay xuất kích từ căn cứ Futenma có thể nhanh chóng tiếp cận hầu hết các mục tiêu trong khu vực. Nhờ đó, sức mạnh của hải quân Mỹ trong khu vực được hỗ trợ đáng kể.

Bên cạnh đó, lực lượng phòng vệ biển của Nhật được tạp chí Asia Military Review đánh giá là một trong những lực lượng mạnh, sở hữu nhiều loại tàu chiến hiện đại. Cạnh bên Nhật Bản là Hàn Quốc, một đồng minh khác của Mỹ, có lực lượng hải quân ngày càng tinh nhuệ. Hàn Quốc đã có thể tự đóng các tàu chiến hiện đại như tàu khu trục Sejong The Great trị giá gần 1 tỉ USD và nước này còn đang đóng bổ sung thêm các tàu chiến hiện đại khác. Đài Loan với lực lượng phòng vệ khiêm tốn chỉ khoảng 38.000 lính nhưng lại được trang bị những tàu chiến tân tiến. Tương tự, Úc cũng sở hữu một lực lượng hải quân tinh nhuệ với số lượng tàu chiến đa dạng.

Trung Quốc

Lực lượng tác chiến chủ chốt của Trung Quốc gồm ba hạm đội là Hạm đội Bắc Hải, Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải. Trong đó, Hạm đội Nam Hải đang được Trung Quốc ra sức phát triển làm nền tảng tăng cường hoạt động ở biển Đông. Hạm đội Bắc Hải đảm trách khu vực Hoàng Hải, vịnh Bột Hải và vùng biển tiếp giáp với Nga, Hạm đội Đông Hải chịu trách nhiệm vùng biển Hoa Đông.

Theo tạp chí quân sự Jane’s Intelligence Review, Trung Quốc đang có căn cứ tàu ngầm HảiNam, nằm gần Tam Á trên đảo HảiNam, là trung tâm điều hành các tàu ngầm tấn công của Hạm đội Nam Hải.

Mới đây, Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức cho hay nước này đang phát triển tên lửa chống tàu sân bay Đông Phong 21D. Trung Quốc cũng đang ráo riết chuẩn bị hạ thủy tàu sân bay Thi Lang, tàu sân bay đầu tiên của nước này. Nhiều thông tin cho rằng tàu sân bay thứ hai của Trung Quốc cũng đang được đẩy mạnh tiến độ chế tạo. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều hồ nghi về sức mạnh thật sự của hải quân Trung Quốc. Nhiều chuyên gia cho rằng tàu sân bay hay tên lửa Đông Phong 21D chưa thể sớm được đưa vào hoạt động.

Các nước ASEAN

Hải quân các nước ASEAN cũng là một lực lượng đang ngày càng lớn mạnh. Trong thời gian qua, hải quân các nước ASEAN đã được bổ sung nhiều tàu chiến hiện đại gồm tàu ngầm, tàu khu trục thuộc nhiều lớp khác nhau với khả năng tác chiến đa dạng, phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia. Nhiều quốc gia của khối nhưSingapore,MalaysiahayIndonesiađều mới trang bị thêm các tàu chiến tân tiến của phương Tây. Thái Lan là nước duy nhất trong khối sở hữu một tàu sân bay cỡ nhỏ. Philippines cũng vừa trang bị tàu chiến lớn nhất trong lịch sử nước này là Gregorio del Pilar, mua lại từ Mỹ. Theo nguồn tin từ Jane’s Defense Weekly, Philippines cũng đang đàm phán với tổ hợp đóng tàu PT Pal của Indonesia để mua 3 tàu đổ bộ có thể chở trực thăng.

Nga

Một cường quốc quân sự khác là Nga cũng có hải quân hiện diện ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Hiện Nga đang có căn cứVladivostoklà nơi đồn trú của tàu chiến hạng nặng gồm tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu ngầm. Kết hợp với các tàu chiến là một cơ số đáng kể máy bay ném bom, máy bay đánh chặn, máy bay chống tàu ngầm để tạo khả năng tác chiến tổng hợp. Nga còn có một căn cứ tàu ngầm lớn ở Vilyuchinsk trên bán đảoKamchatkathuộc vùng Viễn Đông. Căn cứ này nằm gần căn cứ ởVladivostok, cũng thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga. Ngoài ra, giữa tháng 11.2010, Tân Hoa xã dẫn các nguồn tin không chính thức cho hay Nga có kế hoạch xây dựng một căn cứ lớn cho Hạm đội Thái Bình Dương tại 4 hòn đảo đang tranh chấp với Nhật Bản. Tokyo gọi những hòn đảo này là “vùng lãnh thổ phía Bắc”, còn Moscow gọi là “nhóm đảo Nam Kuril”.

Ngô Minh TríThanh Niên 28.7.2011

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.