THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC CÔNG DU CHÂU ÂU: THAY ĐỔI MỤC TIÊU ĐẦU TƯ

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (bìa trái) gặp gỡ nội các chính phủ Đức, ngày 28.6.2011, nhắm tới đẩy mạnh thương mại giữa hai quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới sẽ đạt ít nhất 200 tỉ euro trong vòng 5 năm tới. Ảnh: Reuters.

Thông qua chuyến công du của thủ tướng Ôn Gia Bảo, Trung Quốc một lần nữa thể hiện rõ mục tiêu gắn kết chặt chẽ hơn với cựu lục địa bằng lợi thế dự trữ ngoại tệ khổng lồ của mình.

Chuyến thăm ba nướcHungary, Anh và Đức của thủ tướng Ôn Gia Bảo kết thúc trong tiếng vỗ tay mừng các hợp đồng đầu tư và thỏa thuận thương mại được ký kết trị giá hàng tỉ USD.

Những khoản đầu tư hấp dẫn

Theo Trung Hoa nhật báo, thủ tướng Ôn Gia Bảo trở thành thủ tướng Trung Quốc đầu tiên viếng thămHungarytrong 24 năm qua. Hiện tại,Hungaryđang là đối tác quan trọng của Trung Quốc tại khu vực trung và đông Âu. Năm ngoái, kim ngạch thương mại song phương giữa hai quốc gia đã đạt 8,72 tỷ USD, tăng 28,1% so với năm 2009.

Reuters cho biết Trung Quốc đã đem đến choHungarycác khoảng đầu tư hấp dẫn trị giá nhiều tỷ USD trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng như: công nghệ, hóa chất, hàng không, đường sắt… Nổi bật trong số đó có dự án trung tâm cung ứng châu Âu của tập đoàn viễn thông Huawei, Trung Quốc, đặt tại Hungary, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trị giá 1,2 tỷ USD trong năm nay của Huawei và có thể tạo ra khoảng 3.000 việc làm. Ngân hàng Trung Quốc cũng đã ký thỏa thuận tài trợ 1,1 tỷ Euro (tương đương 1,56 tỷ USD) cho công ty hóa chất nằm ở miền nam Hungary là BorsodChem, vốn đã nằm dưới quyền kiểm soát của tập đoàn hóa chất Wanhua của Trung Quốc từ đầu năm nay.

Tương tự như vớiHungary, thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đã đem đến cho Anh và Đức một số khoản đầu tư cũng như các thỏa thuận thương mại song phương. Trung Quốc và Anh đã công bố thỏa thuận trị giá khoảng 1,4 tỷ bảng Anh (tương đương 2,3 tỷ USD) và đặt ra mục tiêu thương mại song phương Trung – Anh sẽ tăng gấp đôi hiện tại, đạt 100 tỷ USD, vào năm 2015. Theo các nguồn tin, thủ tướng Ôn Gia Bảo có thể công bố đơn đặt hàng 62 chiếc Airbus A320 tại Berlin, Đức, điểm đến cuối cùng của chuyến công du. Việc công bố phụ thuộc vào khả năng giải bất đồng về kế hoạch giới hạn khí thải của EU.

Tranh thủ ảnh hưởng châu Âu

Không chỉ để làm ấm thêm quan hệ hai nước, chuyến thăm lần này của thủ tướng Ôn Gia Bảo còn có ý nghĩa với cả khu vực đông và trung Âu cũng như cả châu Âu. Tại Hungry, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã tham dự Diễn đàn kinh tế và thương mại các quốc gia Đông và Trung Âu diễn ra vào ngày 25.6.2011 tại Budapest, đồng thời Hungary hiện là chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu. Quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông và Trung Âu đã tăng nhanh từ con số kim ngạch thương mại song phương chỉ 3 tỷ USD năm 2000 lên 40 tỷ USD năm 2010, tức tăng trưởng trung bình 32% mỗi năm. Liên minh châu Âu hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc với kim ngạch thương mại song phương đạt 400 tỷ Euro (tương đương 573 tỷ USD)

Trong chuyến công du, thủ tướng Ôn Gia Bảo một lần nữa nhấn mạnh thông điệp rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư lâu dài cho các khoản nợ công của khu vực sử dụng đồng Euro. Tháng 10 năm ngoái, thủ tướng Ôn Gia Bảo lần đầu tiên đưa ra thông điệp trên. Mục tiêu đẩy mạnh quan hệ với EU của Trung Quốc được bài báo trên Wall Street Journal bình luận rằng đó là chỉ dấu cho sự thay đổi đầu tư của Trung Quốc từ Hoa Kỳ sang châu Âu. Thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, Trung Quốc muốn gia tăng ảnh hưởng trong quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), định chế có truyền thống do người châu Âu nắm quyền lãnh đạo. Đầu tháng này, tổng giám đốc IMF, thay thế ông Dominique Strauss Kahn, là bà Christine Lagarde đã khẳng định ủng hộ tăng quyền biểu quyết của Trung Quốc trong IMF từ mức 3,65% lên thành 6,4%.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Sài Gòn Tiếp Thị Online 29.06.2011

TRUNG QUỐC: DI DÂN THEO DIỆN ĐẦU TƯ TĂNG

Kinh tế Trung Quốc càng phát triển, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Trong ảnh: bến du thuyền ở Hải Nam. Ảnh: TL

Mới đây, tờ Quan Sát Kinh Tế (Trung Quốc) đã đăng bài viết về việc Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng “chảy máu tài sản” vì những người giàu có di dân khỏi đất nước này do sự “lo lắng thấp thỏm”, cũng như tìm cách “hạ cánh an toàn”. Bài viết đã được Worldcrunch dịch sang tiếng Anh và đã được tạp chí Time đăng lại.

Xu hướng di dân của người giàu

Theo một nghiên cứu mới đây, phần lớn những người Trung Quốc có tài sản cá nhân từ 10 triệu Nhân dân tệ (tương đương 1,53 triệu USD) cho rằng đầu tư vào bất động sản kém hấp dẫn hơn cái mà họ gọi là “di dân đầu tư”, tức di dân theo diện đầu tư. Gần 60% người được phỏng vấn đã cho biết là họ đang xem xét di dân theo diện đầu tư hoặc đã hoàn thành quá trình này. Đó là kết quả trong nghiên cứu của Báo cáo Tài sản cá nhân 2011 được thực hiện bởi Ngân hàng Thương nhân Trung Quốc (China Merchants Bank) và công ty tư vấn kinh doanh Bain & Company. Nghiên cứu cho thấy người càng giàu càng muốn “di dân đầu tư”. Trong số những người có trên 100 triệu tệ, 27% đã sẵn sàng di dân, 47% đang xem xét di dân, tức tổng tỷ lệ lên đến 74%, cao hơn tỷ lệ 60% tính chung cho những người có trên 10 triệu tệ.

Các kết quả nghiên cứu khác cũng góp phần khẳng định xu hướng  di dân của người giàu Trung Quốc là có thật. Theo website chuyên về đầu tư Caixin, tỷ lệ tăng trưởng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đã đạt 100% trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2010, tỷ lệ gia tăng số người Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài để di dân sang Hoa Kỳ trong năm năm qua là 73%.

Từ sự “thấp thỏm lo lắng”

Tại sao người giàu có của Trung Quốc lại muốn di dân khỏi một đất nước đang trong giai đoạn trỗi dậy mạnh mẽ?  Câu trả lời thật đơn giản, đó là vì có những thứ không thể mua được bằng tiền, ngay cả đối với những người giàu có nhất.

Những lý do về mặt vật chất bao gồm: luật pháp và các quy định, hệ thống giáo dục, phúc lợi xã hội, thuế thừa kế, chất lượng không khí, môi trường đầu tư, an toàn thực phẩm, sự tự do đi lại… Những lý do về mặt tinh thần khiến cho người giàu Trung Quốc muốn di dân là thiếu cảm giác an toàn cá nhân, bao gồm cả sự an toàn cho tài sản cá nhân cũng như nỗi sợ hãi về một tương lai không chắc chắn.

Như thế, một sự “thiếu hạnh phúc” nào đó khiến cho người giàu Trung Quốc tìm đường di dân. Một kết quả nghiên cứu khác là Khảo sát Thúc đẩy hạnh phúc (Gallop Well-being Survey – GWS)  cũng đã cho kết quả tương tự với Báo cáo Tài sản cá nhân 2011.

Theo khảo sát GWS, hầu hết người dân Trung Quốc cảm thấy chán nản, ngay cả khi nước này đang có tốc độ tăng trưởng cao ngất, mà nhiều nước như Mỹ và Châu Âu chỉ có thể mơ. Theo đó, khi đề nghị những người được khảo sát chọn lựa về tình trạng hiện thời của họ bằng ba chọn lựa: khấm khá, chật vật, đau khổ thì chỉ có 12% là khấm khá, có đến 71% là chật vật, 17% là đau khổ. Tỷ lệ người được hỏi cho rằng cuộc sống họ đang khấm khá chỉ ngang bằng với tỷ lệ củaAfghanistan,Yemen. Tỷ lệ  cảm thấy đang “chật vật” cũng tương tự vớiHaiti,AzerbaijanvàNepal. Người nghèo thì than vãn, người giàu thì bỏ đi.

Đến “hạ cánh an toàn”

Năm ngoái, một phụ nữ Trung Quốc đã di dân sang Canada, khi được International Herald Tribune hỏi về lý do di dân, dù trả lời rằng cô lo ngại trường hợp nhiễm độc sửa như vụ Sanlu, thì người này cũng thừa nhận rằng di dân còn là vì “hận thù chống lại người giàu”. Người này nêu bật rằng khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng hơn, người nghèo cũng phàn nàn nhiều hơn, người giàu thì bồn chồn hơn. Một số người giàu thậm chí còn lo lắng về “việc tái phân phối tài sản có thể bắt đầu trở lại”.

Cái gọi là “nguồn gốc tội lỗi của sự giàu có” không phải hoàn toàn không có cơ sở, nó thường rất khó để người giàu ngừng làm giàu cho bản thân. Một khi họ nhận ra điều này, họ thường chọn giải pháp trốn tránh bằng cách di dân và bắt đầu lại từ đầu.

Ngô Minh Trí (lược dịch) – đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 27.06.2011

KẾ HOẠCH KHỐNG CHẾ KHÍ THẢI CỦA CHÂU ÂU BỊ PHẢN ĐỐI MẠNH

Trung Quốc doạ ngừng mua máy bay Airbus A380 để phản đối kế hoạch khống chế khí thải của châu Âu. Ảnh: AP

Nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc cùng nhiều hiệp hội hàng không đã chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch khống chế khí thải của châu Âu. Trung Quốc còn dọa hủy hợp đồng mua máy bay Airbus để chống lại kế hoạch trên.

Mới đây, chính quyền Trung Quốc đã quyết định đóng băng tạm thời kế hoạch mua 10 chiếc máy bay Airbus A380 của Hongkong Airlines. Trước đó, Hongkong Airlines đã gần như hoàn tất thỏa thuận đặt mua 10 máy bay Airbus A380 trị giá 4 tỉ USD tại triển lãm hàng không tổ chức tại Paris vừa qua. Theo Wall Street Journal, một người khá thân cận với phía châu Âu trong đàm phán thương mại trên đã tiết lộ rằng: “Người Trung Quốc nói trực tiếp với chúng tôi rằng các hãng hàng không của họ không được phép giao dịch với châu Âu”.

Hiện tại, quyết định trên của Trung Quốc có thể chưa đủ sức làm tổn thương nhà sản xuất máy bay của châu Âu, bởi Airbus đang có đơn đặt hàng lên đến hơn 3.500 chiếc máy bay của khách hàng toàn cầu. Tuy nhiên, điều đó mang ý nghĩa rất lớn khi Trung Quốc đang là thị trường tăng trưởng lớn nhất toàn cầu. Năm 2009, Airbus đã mở một nhà máy lắp ráp máy bay ở Thiên Tân, Trung Quốc, để khai thác thị trường nội địa của nước này. Airbus cũng đã hy vọng một đơn hàng lớn sẽ được chính thức công bố khi thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo gặp thủ tướng Đức Angela Merkel tạiBerlin(Đức) trong tuần này. Thế nhưng, một trong những người thạo tin cho rằng hợp đồng được dự trù trước đó có thể bị thu hẹp đáng kể hoặc trì hoãn.

Những động thái mới nhất của Trung Quốc được xem là sự trả đũa cụ thể chống lại kế hoạch cắt giảm khí thải mà Liên minh châu Âu (EU) đề ra, bao gồm cả khí thải hàng không. Theo kế hoạch của châu Âu đề ra, bắt đầu từ tháng 1.2012, các hãng hàng không bay đến hoặc đi tại các sân bay thuộc EU đều phải mua các hạn mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên mức quy định và phải chịu một khoản phạt lớn nếu không tuân thủ.

Không riêng Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga cũng chỉ trích mạnh mẽ kế hoạch trên của EU. Hôm thứ ba tuần trước (21.6.2011), các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng phản đối lần đầu tiên kế hoạch của EU trong cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp Hoa Kỳ – châu Âu, tại Oslo, Na Uy.

Ủy ban hỗn hợp Hoa Kỳ – châu Âu, được thành lập từ một hiệp ước hàng không giữa hai bên vào năm 2007, là một diễn đàn quan trọng để thảo luận về các vấn đề liên quan đến ngành hàng không. Hoa Kỳ đã công khai chống đối kế hoạch trên trong suốt hai năm qua. Các quan chức Hoa Kỳ cho rằng quyết định trên của EU là tiếp cận đơn phương và vi phạm các điều ước quốc tế, xâm phạm quyền tài phán của các quốc gia khác. Một số hãng hàng không của Hoa Kỳ cũng đã nộp đơn kiện EU về kế hoạch trên. Các hiệp hội hàng không từ châu Âu đến châu Á và ngay cả hãng Airbus cũng chỉ trích kế hoạch trên. Tuy vậy, EU vẫn tái khẳng định sẽ không thay đổi kế hoạch đã đề ra.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Sài Gòn Tiếp Thị Online 27.06.2011

HÀNG TRUNG QUỐC GIÁ RẺ: KẾT THÚC Ở MAY MẶC, MỞ RA NƠI MÁY TÍNH

Triển lãm Computex 2011 tràn ngập hàng điện tử Trung Quốc giá rẻ (ảnh: ban tổ chức Computex)

Kết thúc một giai đoạn

Trên báo The Economist, ông Bruce Rockowitz, giám đốc điều hành của Li & Fung, đã nhận xét rằng “Kết thúc thời hàng hóa giá rẻ”. Li & Fung là nhà cung cấp quần áo và các sản phẩm gia dụng phổ biến sản xuất theo đơn hàng từ châu Á cho các hệ thống siêu thị ở phương Tây. Trong lĩnh vực công nghệ thấp mà Li & Fung nổi tiếng, công ty này mua khoảng 4% giá trị xuất khẩu của Trung Quốc để xuất sang Mỹ cùng với một mức độ đáng kể sang châu Âu. Li & Fung hoạt động tại một số nước Đông Á, thường xuyên tìm kiếm các nhà cung cấp hàng giá rẻ và đáng tin cậy, từ túi xách đến những chiếc ghế cao dành cho quầy bar. Cho nên, khi Bruce Rockowitz nói rằng kỷ nguyên hàng hóa giá rẻ của châu Á sắp kết thúc thì ý kiến của ông được nhiều người tin.

Ông Bruce Rockowitz cho rằng nền sản xuất châu Á đã trải qua một số giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 30 năm. Khi Trung Quốc đang đóng cửa dưới thời Mao Trạch Đông, các công ty Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc đã trở nên thành thục trong lĩnh vực sản xuất. Khi Trung Quốc mở cửa vào cuối những năm 1970, các nhà điều hành doanh nghiệp đầy kinh nghiệm của châu Á đã tập trung về miềnNamTrung Quốc. Nhờ được tiếp cận dễ dàng với đất đai và lao động, cùng với cảng biển và trung tâm hậu cần hiệu quả gần Hongkong, họ bắt đầu sản xuất ra những hàng hóa rẻ hơn bao giờ hết và bán chúng ra khắp thế giới.

Trong ba mươi năm tiếp theo, các nhà sản xuất Trung Quốc đã giữ cho lạm phát toàn cầu được kiềm chế. Nhưng giờ đây, Bruce Rockowitz nghĩ rằng giai đoạn đó đã kết thúc. Tiền lương ở Trung Quốc đang tăng rất nhanh. Một làn sóng nhu cầu mới, đặc biệt từ chính Trung Quốc, đang làm cho giá cả hàng hóa tăng đột biến.

Các nhà sản xuất có thể tìm kiếm sự thay thế bằng cách di chuyển sản xuất đến một khu vực mới, như phía Tây của Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Malaysia, Ấn Độ và Indonesia. Nhưng ông Bruce Rockowitz dự báo, không có nơi nào trong các khu vực mới có thể kiềm chế lạm phát được như thời phíaNamcủa Trung Quốc từng làm được. Nhiều nơi trong số đó có mức lương đang tăng và hệ thống hậu cần kém cỏi. Không ai có thể cung cấp sự quy mô và hiệu quả như từng được tạo ra khi các nhà sản xuất tập trung về phía Nam Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của một giai đoạn mới

Tuy nhiên, ý kiến của Bruce Rockowitz  có thể không sai nhưng nó không phản ánh tình hình chung cho tất cả các ngành hàng khác của Trung Quốc. Hàng hóa giá rẻ có thể không còn trong lĩnh vực may mặc và sản phẩm gia dụng nhưng lại đang tăng trong lĩnh vực khác, nhất là sản phẩm công nghệ cao.

Trong ngày 31.05.2011, ngày mà Bruce Rockowitz phát biểu tại Hongkong về việc hóa giá rẻ đã kết thúc, thì cuộc triển lãm hàng năm Computex diễn ra tại Đài Bắc, từ ngày 31.05 đến 04.06.2011, đã thể hiện một tình hình khác. Triển lãm Computex đã nhiều người quan tâm đến mức các khách sạn tại Đài Bắc chật kín, dù giá cả tăng cao.

Trong khi những đại gia hàng đầu trong làng công nghệ thế giới như Apple, hay HTC của Đài Loan đều vắng mặt thì có đến 2000 nhà cung cấp đem đến các thiết bị công nghệ tân tiến giá rẻ, rất nhiều trong số đó đến từ Trung Hoa Đại Lục. Các doanh nghiệp đến từ Trung Hoa Đại Lục đã phô trương thanh thế khi thuê đến 500 gian hàng, tăng từ con số 200 của năm trước. Nhiều công ty đến từ cùng các địa phương vốn nổi bật nhờ vào đồ chơi và sản phẩm dệt may giá rẻ.

Nhiều công ty sản xuất thiết bị công nghệ cao của Trung Quốc đã gây chú ý bằng các sản phẩm siêu rẻ, như BananaU cung cấp máy tính bảng chạy hệ điều hành Android với giá chỉ 100 USD, hay máy tính xách tay dùng hệ điều hành Window có thiết kế giống Macbooks với giá dưới 250 USD.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ham muốn tìm hiểu bất cứ sản phẩm nào mà chi phí sản xuất thấp  hoặc dễ dàng tự động hóa để sản xuất chúng. Nay khi chi phí nhân công tăng cao,  họ đã học cách sản xuất nhiều hơn với ít nhân công hơn. Với sự khuyến khích của chính phủ, vành đai kéo dài từ Thâm Quyến đến Quảng Châu chuyển sang các sản phẩm tinh vi hơn, như sản phẩm điện tử.

Sự phát triển này đã giúp cho các nhà sản xuất hàng công nghệ cao giá rẻ của Trung Quốc đẩy mạnh tốc độ sao chép mẫu mã lẫn tính năng của các sản phẩm công nghệ cao của các thương hiệu nổi tiếng thế giới.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 23.06.2011

TÌM KIẾM NHỮNG THỎA THUẬN NĂNG LƯỢNG VÀ QUÂN SỰ

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Kazakstan, mục tiêu khai thác dầu khí của Trung Quốc. Ảnh: TL

Nếu như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã có được những thoả thuận đáng kể với Kazakhstan và Ukraine trong chuyến thăm ba nước Á – Âu, thì hợp đồng năng lượng khổng lồ với Nga lại thất bại.

Theo Trung Hoa nhật báo, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vừa thực hiện chuyến công du, từ ngày 12 đến 20.6.2011, đến ba nước Á – Âu là Kazakhstan, Nga và Ukraine.

Ghi điểm tại Kazakhstan, Ukraine

Cùng chuyến thăm Kazakhstan, ông Hồ Cẩm Đào còn tham gia hội nghị thường niên 2011 của tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Theo The Telegraph, nguồn dự trữ dồi dào khí đốt, dầu mỏ và khoáng sản củaKazakhstanlà mục tiêu khai thác của Trung Quốc.

Một số đảng đối lập tạiKazakhstanđang phản đối việc quốc gia này đang bán quá nhiều dầu mỏ và khoáng sản cho Trung Quốc. Bulat Abilov, đồng sáng lập của đảng đối lập Azat, cho rằng: “Các công ty của Trung Quốc kiểm soát một phần năm sản lượng dầu củaKazakhstan. Những gì đang diễn ra tại các mỏ dầu là một mối đe dọa cho sự độc lập của đất nước và an ninh quốc gia”.

Vì thế, khoản vay cho đầu tư khai khoáng trị giá 1,5 tỉ USD của Trung Quốc dành cho Kazakhstan, được thông qua trong chuyến công du, có thể xem là một thoả thuận để Bắc Kinh o bế nguồn cung cấp năng lượng từ Kazakhstan.

Tương tự nhưKazakhstan,Ukrainecũng đạt được thoả thuận đáng kể với Trung Quốc trong chuyến viếng thăm của ông Hồ Cẩm Đào. Báo chí quốc tế đã bình luận rằng, khoản thoả thuận trị giá 3,5 tỉ USD mà ông Hồ Cẩm Đào dành cho Ukraine góp phần đáng kể để làm ấm lại mối quan hệ giữa hai nước. Từ khi ông Viktor Yushchenko nắm quyền,Ukraineđã đẩy mạnh quan hệ với phương Tây. Các khoản tài trợ tài chính sẽ đượcUkrainedùng để xây dựng các tuyến đường sắt nối liền thủ đôKievvới sân bay Boryspil, là một dự án được cho là có liên quan với nhiều công ty của Trung Quốc.

Theo Channel News Asia, mặc dù Ukraine chỉ đóng vai trò trung gian trong nguồn cung cấp năng lượng, nhưng Ukraine vừa là một nhà cung cấp nông nghiệp, vừa là một nhà cung cấp khí tài quân sự quan trọng cho Trung Quốc. Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc vốn dĩ cũng mua lại từUkraine. Theo nhật báo Kommersant củaUkraine,Kievđang tìm cách bán cho Bắc Kinh bốn tàu đệm khí quân sự cỡ lớn Zubr, tên lửa không đối không và động cơ xe tăng.

Thất bại hợp đồng ngàn tỉ với Nga

Theo thông tấn xã Nga RIA Novosti, trong chuyến thăm, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Nga Medvedev đã đạt được thoả thuận thúc đẩy kim ngạch thương mại song phương hai nước đạt mức 100 tỉ USD vào năm 2015 và 200 tỉ USD vào năm 2020. Năm ngoái, Nga và Trung Quốc đã ký thoả thuận giao thương trực tiếp bằng nhân dân tệ của Trung Quốc và rúp của Nga, thay cho đồng USD.

Tuy nhiên, tâm điểm của chuyến đi lần này mà Bắc Kinh mong muốn nhất là hợp đồng mua năng lượng của Nga trị giá 1.000 tỉ USD trong thời gian 30 năm lại thất bại. Theo Reuters, trước chuyến thăm, cả Trung Quốc và Nga đều hy vọng hợp đồng mua bán giữa tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) và nhà xuất khẩu khí đốt độc quyền của chính quyền Nga là Gazprom, có thể được thông qua sau năm năm đàm phán. Nếu thoả thuận đạt được, Nga sẽ cung cấp cho Trung Quốc 68 tỉ mét khối khí đốt mỗi năm, tương đương 40% tổng lượng xuất khẩu cung cấp cho châu Âu mỗi năm. Tính theo đơn giá Nga đang bán cho châu Âu, hợp đồng này trị giá 1.000 tỉ USD. Theo Reuters, Gazprom cho rằng CNPC không đồng ý mức giá cao hơn 250 USD cho mỗi mét khối khí đốt.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Sài Gòn Tiếp Thị 22.06.2011

RỔ HÀNG HÓA CỦA GIỚI THƯỢNG LƯU ANH CŨNG TĂNG GIÁ

London là nơi đang thu hút giới siêu giàu, gây ra ảnh hưởng đối với giá cả. (ảnh: Internet)

Chi phí sinh hoạt của đời sống thượng lưu ở London đã tăng rõ rệt trong năm qua, khi chỉ số lạm phát của các hàng hóa và dịch vụ xa xỉ quay trở lại với mức độ trước suy thoái.

Giá xa xỉ phẩm tăng nhanh

Giá cả của các loại đồ chơi, bất động sản và các thú chơi xa xỉ dành cho giới siêu giàu ở thủ đô của xứ sở sương mù đang tăng trung bình khoảng 6%. Đó là giá thuê nhà tại các khu vực được nhiều người ao ước nhất tại London đã tăng 6,7%, các loại rượu hảo hạng tăng 26,7%, giá cả các buổi bán đấu giá tác phẩm nghệ thuật tăng 10,5%. Rượu sâm banh tăng giá 8,2% và phí thành viên các câu lạc bộ polo tăng 17,6%.

Không những thế, lạm phát thực tế của hàng hóa và dịch vụ xa xỉ có thể còn cao đến 7,5%, nếu không có những thay đổi trong tỷ giá hối đoái. Đồng bảng Anh tăng giá so với USD đã giúp hạn chế phần nào sự gia tăng chi phí của giới siêu giàu, vì nhiều dịch vụ, ví dụ dịch vụ cho thuê du thuyền, đã được tính bằng giá USD.

Tuy nhiên, không phải mọi vật giá xa xỉ đều tăng. Nhà hàng sang trọng, quần áo được thiết kế riêng và học phí chỉ tăng nhẹ, trong khi xe hơi sang chỉ tăng giá 4 – 5%, tương đương với mức tăng giá chung.

“Rổ hàng hóa” của giới thượng lưu

Do bản chất riêng của hàng hóa xa xỉ là sự cần thiết sử dụng khác với các hàng hóa thông thường, nên chỉ số giá của hàng hóa xa xỉ thường có nhiều biến động hơn so với các hàng hóa tiêu chuẩn. Ví dụ như từ mức giảm phát 4% trong giai đoạn 2008 – 2009, hàng hóa xa xỉ đã quay trở lại mức lạm phát 0,6% trong giai đoạn 2009 – 2010.

Ngoài ra, tỷ lệ lạm phát của hàng hóa và dịch vụ xa xỉ cũng phản ánh tình trạngLondonlà nơi đang thu hút giới siêu giàu, gây ra ảnh hưởng đối với giá cho thuê nhà, mua bán đấu giá. Ronnie Armist, giám đốc điều hành của Stonehage Investment Partners nói: “Nhiều của cải được tạo ra từ Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông, đang tìm đường đến Anh và điều đó tạo ra ảnh hưởng lên giá cả vì mức độ nhu cầu”.

Tính toán chỉ số giá hàng hóa xa xỉ Salli được thực hiện bởi Stonehage Investment Partners, dựa theo phương pháp của Geoffrey Wood thuộc trường kinh doanh Cass. Chỉ số Salli được tính toán dựa trên rổ bao gồm khoảng 50 loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau, chia thành sáu nhóm. Mức độ ảnh hưởng của từng sản phẩm trên rổ hàng hóa dựa trên cơ sở sử dụng trung bình.

Một trong sáu nhóm là hàng hóa tiêu dùng, bao gồm: trứng cá muối Beluga, xì gà Cohiba Siglo V, chỉ số rượu hảo hạng Liv-ex 100 (chỉ số giá của 100 loại rượu vang hảo hạng nhất trên thị trường). Nhóm hàng tiêu dùng này đã tăng 18%. Một nhóm khác là nhóm sản phẩm giải trí và văn hóa, chẳng hạn như phí thành viên câu lạc bộ Walbrook, giá vé cao cấp của nhà hát Opera hoàng gia, nhóm này đã tăng giá 10,3%. Hai nhóm gồm chi phí nhà ở và chi phí sinh hoạt gia đình, bao gồm giá thuê nhà ở Kensington và Chelsea, học phí của trường Westminster và phí trị bệnh tại Botox, tăng 5,7% trên tổng thể.

Ngô Minh Trí (theo Financial Times) – Sài Gòn Tiếp Thị Online 20.06.2011

TRUNG QUỐC THẮT CHẶT AN NINH CHỐNG BẤT ỔN

Cảnh sát chống bạo động được triển khai trên các đường phố ở Zengcheng (Ảnh: Reuters)

Trung Quốc đang gia tăng hàng loạt biện pháp an ninh để chống lại tình trạng bất ổn đang diễn ra tại một số khu vực trên cả nước. Du khách nước ngoài cũng không được cho phép đến Tây Tạng trong tháng 7.

Theo Wall Street Journal, Trung Quốc đã triển khai hàng ngàn cảnh sát chống bạo động được trang bị hơi cay và súng ngắn, ở thị trấn phía nam của Trung Quốc, để vãn hồi trật tự. Cảnh sát chống bạo động đã triển khai kiểm tra ở các đường phố chính, chốt chặn tại các điểm kiểm tra ở hầu hết các giao lộ để kiểm tra giấy tờ tuỳ thân của các tài xế cũng như người đi bộ vào tối thứ ba 14.6 ở khu vực Xintang thuộc Zengcheng, một thành phố có khoảng hơn 800.000 người mà một nửa trong số đó là lao động nhập cư. Bên cạnh đó, chính quyền Zengcheng hứa sẽ điều tra sự việc gây ra cuộc bạo động, và các nhà lãnh đạo của 1.200 doanh nghiệp trong khu vực cũng đã được chính quyền nhắc nhở phải “để mắt” đến các công nhân của mình

Khu vực Xintang là một khu vực gia công đồ jean ở phía nam tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi chiếm khoảng một phần ba xuất khẩu của Trung Quốc, là khu vực bất ổn mới nhất. Tuy nhiên, bài báo trên Wall Street Journal cho biết những công nhân nhập cư lẫn các cố vấn cho chính phủ đều cho rằng nguy cơ bạo động bùng phát trở lại nếu các lãnh đạo không giải quyết ổn thoả vấn đề người nhập cư. Một công nhân 48 tuổi đến từ Tứ Xuyên, chỉ dám nêu họ là Sun, nói rằng: “Bạo động có thể bắt đầu trở lại, người ta vẫn còn tức giận. Chính phủ không quan tâm đến chúng tôi”. Bầu không khí vẫn còn căng thẳng, vẫn còn lời kêu gọi trả tự do cho 25 người đã bị bắt trong cuộc bạo động.

Theo AFP, để xoa dịu tình hình, cảnh sát ở miền nam Trung Quốc vừa chính thức công bố đã bắt giữ một người là nghi can đã phát tán tin đồn về người phụ nữ có thai bán hàng rong bị lực lượng trật tự xô ngã, nguyên nhân của cuộc bạo động bùng nổ vào thứ sáu tuần trước. Người đàn ông, từng có tin đồn là đã chết, đã xuất hiện tại cuộc họp báo được tổ chức tại địa phương vào hôm chủ nhật vừa qua, nói rằng vợ và đứa con đang còn trong bụng của vợ chồng ông vẫn khoẻ mạnh.

Trong một diễn biến khác, Reuters cho biết chính quyền Trung Quốc đã tạm ngưng cho phép người nước ngoài đi du lịch tại Tây Tạng. Một đại lý du lịch khác ở Bắc Kinh cho biết thêm họ đã nhận được thông báo từ vài tháng trước là không cho người nước ngoài có mặt tại Tây Tạng vào tháng 7. Lệnh cấm này đã khiến cho nhiều đại lý du lịch của Trung Quốc bị thiệt hại vì phải huỷ một số tour du lịch.

Ngô Minh Trí (AFP/Reuters/WSJ) – SGTT 17.06.2011

CHÂU ÂU KHÔNG BI QUAN

Những người phản đối chính phủ treo cao tấm poster có hình Thủ tướng Hy Lạp Georges Papandreou và dòng chữ “IMF, người lao động của năm”, tập hợp trước Nghị viện Hy Lạp ngày 11.6.2011 (Ảnh: Reuters)

Mặc dù Hy Lạp tiếp tục bị Standard & Poors hạ mức tín nhiệm tín dụng nhưng châu Âu đã không tỏ ra bi quan và thị trường vẫn khởi sắc.

Hy Lạp: ngày càng “mất giá”

Cơ quan xếp hạng tín nhiệm tín dụng Standard & Poor’s (S&P) đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Hy Lạp từ B xuống mức CCC. Quyết định của S&P được đưa ra khi khối Eurozone cùng với quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đang đàm phán gói cứu trợ thứ hai trị giá ước tính khoảng 120 tỉ euro (tương đương 172 tỉ USD). Cách đây một năm, nhóm trên cũng đã thực hiện gói cứu trợ trị giá 110 tỉ euro nhưng vẫn chưa giải quyết được tình trạng tài chính ảm đạm của Hy Lạp, vốn đang có số nợ công khoảng 340 tỉ euro (tương đương khoảng 480 tỉ USD).

Trong bảng xếp hạng của S&P thì sau CCC, chỉ còn hai bậc nữa là đến mức vỡ nợ. Đó là mức thấp nhất thế giới hiện nay trong bảng xếp hạng của S&P và thấp hơn cả Pakistan, Ecuador, vốn là những nước đã bị loại khỏi thị trường tài chính quốc tế vì vỡ nợ vào năm 2009. Tuy nhiên, vì bảng xếp hạng của S&P không bao gồm tất cả các quốc gia trên thế giới, nên vẫn có thể có một số các quốc gia khác có tình trạng tệ hơn Hy Lạp.

Theo Reuters, S&P cho rằng các nhà hoạch định chính sách châu Âu có thể sẽ đi đến một quyết định áp đặt Hy Lạp phải tái cấu trúc nợ, bằng cách trao đổi trái phiếu hoặc mở rộng kỳ hạn nợ, như là một cách để các nhà đầu tư tư nhân phải chia sẻ gánh nặng nợ nần của Hy Lạp. Với S&P, bất cứ giao dịch nào kém thuận lợi hơn việc tái cấp vốn thì đó đều được nhìn nhận là: vỡ nợ trên thực tế dựa theo các tiêu chuẩn do S&P công bố. Theo Wall Street Journal, S&P còn cho rằng thậm chí nếu như Hy Lạp không vỡ nợ nhờ vào các đàm phán giữa các nước thuộc khối Eurozone và IMF thì vẫn tồn tại một nguy cơ lớn rằng những chủ sở hữu trái phiếu của Hy Lạp sẽ không thu được tiền vào năm 2013.

Thị trường cổ phiếu châu Âu tăng điểm

Mặc dù Hy Lạp bị đánh giá thấp đi nhưng thị trường lại không tỏ dấu hiệu bi quan hơn, mà ngược lại còn khởi sắc. Nếu như giá cổ phiếu của Hy Lạp giảm 1% thì giá cổ phiếu của châu Âu lại tăng lên.

Theo Wall Street Journal, đồng euro tăng giá vì các nhà đầu tư đã “nhún vai xem thường” quyết định của S&P và họ tin vào việc các nhà hoạch định chính sách châu Âu sẽ đạt được thoả thuận giải cứu Hy Lạp khỏi vỡ nợ. Alan Ruskin, chiến lược gia của Deutsche Bank tại New York, dù tỏ ra thận trọng khi cho rằng có những e ngại trên thị trường về việc vỡ nợ của Hy Lạp hay suy thoái của Hoa Kỳ, nhưng ông nhận định rằng châu Âu cuối cùng cũng sẽ giải quyết vấn đề của Hy Lạp mà “không gây sầu não quá nhiều cho thị trường”.

Bên cạnh đó, những tín hiệu tốt từ nền kinh tế Trung Quốc cũng được xem là liều thuốc kích thích cho thị trường châu Âu khởi sắc trong thời điểm hiện tại. Theo Reuters, doanh số bán lẻ của Trung Quốc đã nhỉnh cao hơn dự báo chút ít và sản lượng công nghiệp không thấp hơn dự báo là bao. Nói một cách khác, dữ liệu cho thấy lạm phát của Trung Quốc không ngoài tầm kiểm soát và tăng trưởng đã được kiểm soát. Reuters dẫn lời Keith Bowman, chuyên gia của Hargreaves Lansdown, cho rằng: “Suy giảm có chừng mực của nền kinh tế Trung Quốc là đúng điều các nhà đầu tư muốn”.

Ngô Minh Trí (Reuters/WSJ)

Mặc dù Hy Lạp tiếp tục bị Standard & Poors hạ mức tín nhiệm tín dụng nhưng châu Âu đã không tỏ ra bi quan và thị trường vẫn khởi sắc.

Hy Lạp: ngày càng “mất giá”

Cơ quan xếp hạng tín nhiệm tín dụng Standard & Poor’s (S&P) đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Hy Lạp từ B xuống mức CCC. Quyết định của S&P được đưa ra khi khối Eurozone cùng với quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đang đàm phán gói cứu trợ thứ hai trị giá ước tính khoảng 120 tỉ euro (tương đương 172 tỉ USD). Cách đây một năm, nhóm trên cũng đã thực hiện gói cứu trợ trị giá 110 tỉ euro nhưng vẫn chưa giải quyết được tình trạng tài chính ảm đạm của Hy Lạp, vốn đang có số nợ công khoảng 340 tỉ euro (tương đương khoảng 480 tỉ USD).

Trong bảng xếp hạng của S&P thì sau CCC, chỉ còn hai bậc nữa là đến mức vỡ nợ. Đó là mức thấp nhất thế giới hiện nay trong bảng xếp hạng của S&P và thấp hơn cả Pakistan, Ecuador, vốn là những nước đã bị loại khỏi thị trường tài chính quốc tế vì vỡ nợ vào năm 2009. Tuy nhiên, vì bảng xếp hạng của S&P không bao gồm tất cả các quốc gia trên thế giới, nên vẫn có thể có một số các quốc gia khác có tình trạng tệ hơn Hy Lạp.

Theo Reuters, S&P cho rằng các nhà hoạch định chính sách châu Âu có thể sẽ đi đến một quyết định áp đặt Hy Lạp phải tái cấu trúc nợ, bằng cách trao đổi trái phiếu hoặc mở rộng kỳ hạn nợ, như là một cách để các nhà đầu tư tư nhân phải chia sẻ gánh nặng nợ nần của Hy Lạp. Với S&P, bất cứ giao dịch nào kém thuận lợi hơn việc tái cấp vốn thì đó đều được nhìn nhận là: vỡ nợ trên thực tế dựa theo các tiêu chuẩn do S&P công bố. Theo Wall Street Journal, S&P còn cho rằng thậm chí nếu như Hy Lạp không vỡ nợ nhờ vào các đàm phán giữa các nước thuộc khối Eurozone và IMF thì vẫn tồn tại một nguy cơ lớn rằng những chủ sở hữu trái phiếu của Hy Lạp sẽ không thu được tiền vào năm 2013.

Thị trường cổ phiếu châu Âu tăng điểm

Mặc dù Hy Lạp bị đánh giá thấp đi nhưng thị trường lại không tỏ dấu hiệu bi quan hơn, mà ngược lại còn khởi sắc. Nếu như giá cổ phiếu của Hy Lạp giảm 1% thì giá cổ phiếu của châu Âu lại tăng lên.

Theo Wall Street Journal, đồng euro tăng giá vì các nhà đầu tư đã “nhún vai xem thường” quyết định của S&P và họ tin vào việc các nhà hoạch định chính sách châu Âu sẽ đạt được thoả thuận giải cứu Hy Lạp khỏi vỡ nợ. Alan Ruskin, chiến lược gia của Deutsche Bank tại New York, dù tỏ ra thận trọng khi cho rằng có những e ngại trên thị trường về việc vỡ nợ của Hy Lạp hay suy thoái của Hoa Kỳ, nhưng ông nhận định rằng châu Âu cuối cùng cũng sẽ giải quyết vấn đề của Hy Lạp mà “không gây sầu não quá nhiều cho thị trường”.

Bên cạnh đó, những tín hiệu tốt từ nền kinh tế Trung Quốc cũng được xem là liều thuốc kích thích cho thị trường châu Âu khởi sắc trong thời điểm hiện tại. Theo Reuters, doanh số bán lẻ của Trung Quốc đã nhỉnh cao hơn dự báo chút ít và sản lượng công nghiệp không thấp hơn dự báo là bao. Nói một cách khác, dữ liệu cho thấy lạm phát của Trung Quốc không ngoài tầm kiểm soát và tăng trưởng đã được kiểm soát. Reuters dẫn lời Keith Bowman, chuyên gia của Hargreaves Lansdown, cho rằng: “Suy giảm có chừng mực của nền kinh tế Trung Quốc là đúng điều các nhà đầu tư muốn”.

Ngô Minh Trí (Reuters/WSJ) – đăng trên SGTT 15.06.2011

SỰ NỔI LÊN CỦA NHÂN DÂN TỆ

Hongkong đã trở thành phòng thí nghiệm trong chương trình quốc tế hóa NDT của Trung Quốc (ảnh: internet)

Trung Quốc đang đẩy nhanh chương trình quốc tế hóa Nhân dân tệ (NDT) để tăng vị thế trên thị trường thế giới, nhưng điều đó có thể tạo ra tác dụng ngược.

Quốc tế hóa mở đường tăng giá Nhân dân tệ

Theo hãng tin Bloomberg, Trung Quốc có thể mở rộng biên độ tỷ giá NDT – Đôla Mỹ  lên thành +/-1% so với mức giá ấn định hàng ngày. Hiện tại, biên độ mà Trung Quốc đang cho phép biên độ chỉ là 0,5%. Nhiều chuyên gia cho rằng mở rộng biên độ, từng bước nâng giá NDT là biện pháp mà Trung Quốc đối phó với áp lực lạm phát. Đó có thể là nguyên nhân trực tiếp, nhưng về lâu dài là do Trung Quốc đang quốc tế hóa NDT.

Theo báo Wall Street Journal, Thống đốc Ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên đã thuyết phục các lãnh đạo nhà lãnh đạo nước này rằng Trung Quốc cần phải quốc tế hóa NDT cho tương xứng với vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Bắc Kinh đã cho phép sử dụng NDT trong các giao dịch xuất nhập khẩu từ tháng 07.2009. Thống đốc Chu cũng không ngừng nỗ lực để NDT có mặt trong  rổ tiền tệ SDRs (Special Drawing Rights), loại tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mà các quốc gia có thể dùng để dự trữ. Tuy nhiên, để NDT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs, Trung Quốc phải thả nỗi tỷ giá đồng tiền theo cung cầu của thị trường.

Thực tế, nỗ lực quốc tế hóa NDT của Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ. Giá trị giao dịch ngoại thương bằng NDT trong quý một năm nay đã là 360 tỷ NDT (tương đương 55 tỷ đô la Mỹ), bằng 7% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Theo dự báo của Standard Chartered thì giá trị giao dịch bằng NDT có thể chiếm đến 20% tổng giá trị ngoại thương của nước này vào năm 2015.

Hongkong: Phòng thí nghiệm chính sách

Kết quả quốc tế hóa NDT của Trung Quốc đạt được rõ nhất tại đặc khu Hongkong. Các doanh nghiệp và cá nhân ở Hongkong có thể giao dịch trực tiếp NDT một cách dễ dàng. Khoảng 30% giao thương toàn cầu của Trung Quốc được thực hiện thông qua Hongkong nên những nới lỏng về việc sử dụng NDT đã khiến cho NDT chảy vào tài khoản của các ngân hàng Hongkong ngày một nhiều hơn.

Vào ngày 30.04 vừa qua, tiền gởi bằng NDT trong các ngân hàng Hongkong đã đạt 511 tỷ NDT (tương đương 79 tỷ đô la Mỹ), tăng khoảng tám lần so với giai đoạn đầu năm 2010. Nhiều người dân Hongkong đang chuyển dần một phần của cải sang NDT vì họ tin rằng NDT sẽ tăng giá trong thời gian tới. Wall Street Journal đã trích dẫn ý kiến của nhà đầu tư 35 tuổi David Lau cho rằng: “Rõ ràng, tôi nghĩ NDT sẽ tăng giá. Tôi có một số tiền mặt và tôi không muốn nó bị hoa tổn đi vì lạm phát”. Vì thế, David Lau luôn giữ khoảng 10 đến 15% tiền gởi trong ngân hàng của mình bằng NDT.

Vị thế của NDT tại Hongkong đang ngày càng thể hiện rõ nét hơn. Năm ngoái, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã lần đầu tiên phát hành trái phiếu bằng NDT tại Hongkong. Một số công ty khác như McDonald’s Corp, Caterpillar INC cũng đã làm điều tương tự. Đây là một thay đổi đáng kể, vì trước đó chỉ có các ngân hàng và cơ quan chính phủ của Trung Quốc mới thực hiện điều này. Nhiều chuyên gia đã từng nhận định rằng Bắc Kinh đang từng bước quốc tế hóa NDT bằng cách chuyển đổi dần việc thanh toán tiền tệ trên sàn chứng khoán Hongkong từ đô la Hongkong sang NDT, tạo nền tảng để khi Thượng Hải phát triển thành trung tâm tài chính hàng đầu thế giới vào năm 2020, đồng NDT cũng sẽ có lưu lượng giao dịch mạnh mẽ hơn.

Tác dụng ngược?

Đồng NDT được sử dụng rộng rãi trong thương mại và đầu tư quốc tế có thể thách thức vị thế thống trị của đô la Mỹ, điều chỉnh sự mất cân đối đang làm lung lay kinh tế toàn cần và buộc người Mỹ phải thắt lưng buộc bụng.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng việc quốc tế hóa nhanh chóng NDT có thể tạo ra những hậu quả ngoài ý muốn cho Trung Quốc. Yu Yongding, cựu cố vấn cao cấp của Ngân hàng trung ương Trung Quốc, cho rằng đẩy mạnh giao dịch bằng NDT tạo ra các tác động xấu. Theo ông Yu, nhà đầu tư bên ngoài chấp nhận NDT vì tin rằng tiền tệ này sẽ lên giá trong thời gian tới, cho nên họ mua NDT để dự trữ chứ không dùng nó để mua lại hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc. Khi đó, Trung Quốc lại tiếp tục nhận lại ngoại tệ, kho dự trữ ngoại tệ sẽ ngày càng phình to hơn, làm cho Trung Quốc lậm sau hơn vào “bẫy dự trữ đô la Mỹ”.

Các nhà phân tích ước tính khoảng 80% giao dịch ngoại thương bằng NDT là do các doanh nghiệp Trung Quốc thanh toán hàng nhập khẩu, làm giảm lượng ngoại tệ chảy ra khỏi Trung Quốc. Theo ông Mark Williams, kinh tế gia tại Capital Econimic, nguyên nhân trên đã đóng góp 40 tỷ đô la Mỹ, tương đương 20%, vào dự trữ ngoại tệ Trung Quốc trong quý một vừa qua. Như vậy, cảnh báo của Yu Yongding về nguy cơ của việc quốc tế hóa tiền tệ quá nhanh là có thật. Ông Yu Yongding cũng nói thêm rằng quốc tế hóa tiền có thể làm tăng dòng tiền nóng đầu cơ, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 09.06.2011

NHẬT BẢN HỒI PHỤC SAU THIÊN TAI: NHỮNG THỬ THÁCH LỚN

Thị trường chứng khoán khởi sắc, nhờ những dự báo tăng trưởng sản lượng sản xuất, đã không đủ sức làm cho các hãng xếp hạn ko hạ tín nhiệm tín dụng đối với Nhật Bản (ảnh: Reuters)

 Sau cơn thiên tai kép vào 03.2011, Nhật Bản kỳ vọng sẽ có những bước phục hồi mạnh mẽ nền kinh tế bị suy thoái. Thế nhưng, thực tế đang đặt ra cho Nhật Bản nhiều thử thách lớn, nếu không muốn nói là nan giải.

Rủi ro tiềm ẩn

Người Nhật đã nhanh chóng nhận được những tín hiệu đáng mừng về sự phục hồi sau cơn thiên tai kép ngày 11.03.2011. Sản lượng công nghiệp tháng 04.2011 đã tăng lên và các nhà sản xuất Nhật Bản đã tỏ ra rất hào hứng lập kế hoạch đẩy mạnh sản xuất để năn suất sản xuất trong tháng năm và tháng sáu sẽ nhanh chóng đạt mức trước thiên tai. Theo Reuters, mặc dù dữ liệu về sản xuất cho thấy sản lượng sản xuất của Nhật Bản chỉ tăng 1% trong tháng tư, thấp hơn so với mức dự báo trung bình của các nhà kinh tế là 2,8%, nhưng kế hoạch của các nhà sản xuất đề ra một sự phục hồi nhanh chóng từ mức sụt giảm kỷ lục là 15,5% do hậu quả trực tiếp của cơn thiên tai. Theo số liệu của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, các nhà sản xuất Nhật Bản dự báo mức tăng của sản lượng sản xuất là 8% trong tháng năm và 7,7% vào tháng sáu. Một số kinh tế gia còn cho rằng Nhật Bản sẽ phục hồi nhanh chóng. Nhật xét trên Reuters, Kyohei Morita, kinh tế gia trưởng tại Barclays Capital Nhật Bản, cho rằng: “Từ tháng năm, một sự phục hồi theo hình chữ “V” có thể bắt đầu và sản lượng đầu ra có thể vẫn tăng trong suốt tháng bảy và tháng tám với tốc độ tương tự như những dự đoán cho tháng năm và tháng sáu”.

Tuy nhiên, sự lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Nhật Bản trong dài hạn đã bị kiềm lại bởi sự lo ngại tình trạng mất điện sẽ diễn ra trong giai đoạn cao điểm là mùa hè, cũng như những bất đồng chính trị giữa các đảng phái có thể trì hoãn các chương trình chi tiêu xây dựng. Kyohei Morita cũng có lo ngại này khi nói: “Một rủi ro là những gì các chính trị gia sẽ làm trong tháng sáu. Nếu họ tổ chức một cuộc bầu cử bất ngờ, điều đó sẽ trì hoãn gói ngân sách mở rộng lần hai”. Hãng xếp hạng tín nhiệm tín dụng Moody’s cũng có cùng nhận xét: “Chính phủ dự định giới thiệu một chương trình cải cách thuế toàn diện vào tháng sáu. Tuy nhiên, sự chia rẻ trong nghị viện Nhật Bản và sự tăng cường mức độ thử thách chính trị đối với thủ tướng Naoto Kan kết hợp lại sẽ tiếp tục đe doạ làm sa lầy nỗ lực trên”. Thủ tướngNaotoKan đang bị giảm mất tín nhiệm trong thời gian qua. Cuộc khảo sát được thực hiện bởi báo Nikkie và TV Tokyo vào ngày 29.05.2011 cho thấy tỷ lệ ủng hộ ôngNaotoKan chỉ còn 28%.

Tín nhiệm tín dụng giảm, thất nghiệp tăng

Vì thế, dù thị trường chứng khoán Nhật đã tăng 2% sau những dự báo về việc tăng nhanh sản lượng sản xuất, nhưng những rủi ro có thể xảy đến cho nền kinh tế Nhật Bản đã làm cho tín hiệu lạc quan trên không đủ sức cứu vãn đánh giá về nền kinh tế Nhật Bản của các công ty xếp hạng tín dụng. Vào ngày thứ ba 31.05.2011, công ty xếp hạng tín dụng Moody’s đã cho biết sẽ đưa hạng tín nhiệm tín dụng Aa2  của Nhật Bản vào triển vọng tiêu cực, mức Aa2 là mức mà Moody’s đã xếp hạng đối với Nhật Bản vào tháng hai. Theo Wall Street Journal, cơ quan xếp hạng tín dụng này cho rằng việc đánh giá lại mức tín nhiệm tín dụng đối với Nhật Bản là vì: “quan ngại tăng cao về sự chùn bước của những kỳ vọng tăng trưởng kinh tế và sự phản ứng chính sách yếu ớt sẽ tạo ra nhiều thử thách hơn đối với chính phủ trong việc tạo thành và đạt được mục tiêu cắt giảm thâm hụt đáng tin cậy”.

Nợ công tương đương 200% GDP vốn dĩ đang là thử thách mà Nhật Bản chưa có biện pháp cải thiện khả thi trước cơn thiên tai, thì nay thử thách này lại càng lớn hơn vì Nhật Bản cần tăng cường chi tiêu để phục hồi nền kinh tế. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ước tính nợ công của Nhật Bản sẽ tương đương 219% GDP trong năm tới. Trong cuộc khảo sát của báo Nikkie và TV Tokyo, có đến 46% người được hỏi đã phản đối việc tăng thuế như một biện pháp để chi trả cho việc xây dựng sau động đất. Thủ tướngKantừng tuyên bố sẽ nâng 5% thuế tiêu dùng để cắt giảm nợ công.

Không riêng gì Moody’s, nhiều cơ quan xếp hạng tín dụng khác cũng đánh giá thấp kỳ vọng tín dụng đối với nợ công của Nhật Bản. Trước khi Moody’s hạ thấp mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản, Fitch cũng đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản xuống còn AA- vào thứ sáu tuần trước 27.05.2011. Trước đó nữa, Standar & Poor’s cũng đã hạ mức tín nhiệm tín dụng của Nhật Bản xuống còn AA- vào tháng tư. Trong thang đánh giá của Moody’s, mức xếp hạng Aa2 là mức cao thứ ba và cao hơn mức AA- của Fitch hay Standar & Poor’s. Xa hơn, Fitch còn cảnh báo một viễn cảnh tiêu cực đối với nền kinh tế Nhật Bản. Đó là cơn thiên tai đang thúc đẩy các nhà sản xuất di chuyển việc sản xuất ra nước ngoài, điều này sẽ làm cho mất đi vĩnh viễn một sản lượng đáng kể của nền sản xuất Nhật Bản.

Không chỉ đối mặt với nguy cơ nợ công cũng như sự chia rẻ của các chính trị gia, Nhật Bản đang phải chứng kiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ mức 4,6% trong tháng ba lên thành 4,7%. Tỷ lệ sẵn có của công việc cũng giảm từ mức 0,63 của tháng ba xuống còn 0,61, thấp hơn mức 0,62 mà các nhà kinh tế kỳ vọng. Tỷ lệ 0,61 sẵn có của công việc nghĩa là có 61 công việc cho mỗi 100 người tìm việc.

Ngô Minh Trí  - đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 02.06.2011

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.