CUỘC “VẠN LÝ TRƯỜNG CHINH” CỦA NHÂN DÂN TỆ

Trung Quốc có nâng vị thế đồng NDT và hạ bệ đô la Mỹ (ảnh: Reuters)

Đến nay, mặc dù Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng Nhân dân tệ (NDT) vẫn chưa là một loại tiền tệ quốc tế. Và để nâng NDT thành một đồng tiền quốc tế, Trung Quốc đang nỗ lực bắt đầu một cuộc “vạn lý trường chinh”.

Thúc đẩy giao thương bằng Nhân dân tệ

Theo Wall Street Journal, vào thứ ba tuần trước (19.04.2011), một quan chức cao cấp trong ngành tài chính Hongkong đã cho biết Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang “tích cực xem xét” những quy định mới để giúp việc mang nhân dân tệ quay trở lại Trung Quốc được dễ dàng hơn. Hiện tại, Trung Quốc vẫn đang thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt các dòng tiền ra vào nền kinh tế Trung Quốc. Với chiều hướng thay đổi đó, Bắc Kinh muốn tạo niềm tin cho các đối tác nước ngoài rằng có thể dễ dàng sử dụng NDT đầu tư trở lại Trung Quốc để các đối tác có thể chấp nhận thanh toán bằng NDT trong giao thương.

Thứ hai tuần trước (18.04.2011), Tân Hoa Xã trích dẫn báo cáo của một quan chức Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết giá trị giao thương quốc tế của NDT trong quý một năm nay đã đạt 7% tổng ngoại thương của Trung Quốc, một sự tăng trưởng đáng kể khi tỷ lệ trên chỉ là 5,7% trong quý tư và 0,5% trong quý một năm trước. Như vậy, trong quý một vừa qua, giá trị ngoại thương bằng NDT đã tăng từ mức 309,3 tỷ NDT (tương đương 47,3 tỷ đô la Mỹ) của quý trước lên thành 360,3 tỷ NDT (tương đương 55,2 tỷ đô la Mỹ), gấp hai mươi lần so với con số 18,4 tỷ NDT (tương đương 2,8 tỷ đô la Mỹ) của cùng kỳ năm trước.

Những con số tăng trưởng không ngừng của giá trị ngoại thương bằng NDT là kết quả của những nỗ lực không ngừng của Bắc Kinh để tăng cường khả năng giao thương của NDT. Tháng 12 năm ngoái, Trung Quốc đã nâng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu được phép sử dụng NDT trong ngoại thương từ mức vài trăm lên thành 70.000 doanh nghiệp. Trung Quốc cũng đẩy mạnh cả các thoả thuận thương mại song phương bằng NDT với nhiều quốc gia khác. Cuối năm ngoái, Trung Quốc đã có được sự thoả thuận với Nga để loại bỏ đô la Mỹ ra khỏi giao thương giữa hai nước. Trung Quốc cũng đã có thoả thuận với Brazil để tăng cường thanh toán giao thương song phương bằng NDT hơn là đô la Mỹ. Wall Street Journal đã dẫn lời một quan chức ngành tiền tệ Singapore cho biết rằng Singapore cũng đang đàm phán để thực hiện việc giao thương song phương bằng NDT.

Trung Quốc cũng đang thúc đẩy để các công ty phương Tây và Trung Quốc có thể dễ dàng phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu bằng NDT. Các doanh nghiệp Caterpillar Inc, McDonald’s Corp và Unilever NV trở thành những đơn vị tiên phong cho nỗ lực trên. Tháng tám năm ngoái, MC Donald đã trở thành doanh nghiệp phi tài chính đầu tiên phát hành trái phiếu bằng NDT trị giá 200 triệu NDT (tương đương 29 triệu đô la Mỹ). Nên khi NDT có thể được đầu tư dễ dàng hơn tại Trung Quốc sẽ càng kích thích các doanh nghiệp khác thực hiện huy động vốn bằng NDT.

“Quốc tế hoá” Nhân dân tệ và “hạ bệ” Đô la Mỹ

Để “quốc tế hoá” NDT, Bắc Kinh cũng đang ra sức vận động để NDT có một vai trò lớn hơn trong các định chế tài chính quốc tế. Trước mắt, Bắc Kinh đang muốn NDT nhanh chóng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs (Special Drawing Rights), loại tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mà các quốc gia có thể dùng để dự trữ. Hiện tại, rổ tiền tệ SDRs đang chỉ có đô la Mỹ, Euro, Bảng (Anh) và Yên (Nhật). Trung Quốc đã thể hiện rất rõ tham vọng trên của mình, thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên phát biểu rằng: “Nếu có ai đề nghị rằng NDT nên nằm trong rổ tiền tệ SDRs thì chúng tôi sẽ hoan nghênh ý kiến đó”. Cuối tháng trước, khối G20, về cơ bản, đã đồng ý một tiến trình để NDT có mặt trong rổ tiền tệ của SDRs.

Đó là một trong những nỗ lực thúc đẩy hình thành một hệ thống kinh tế tài chính mà trong đó NDT đóng vai trò trung tâm, hay nói một cách khác là nhằm phát triển NDT trở thành tiền tệ quốc tế. Thông qua việc “quốc tế hoá”, nâng cao vị thế NDT, Trung Quốc cũng muốn tìm cách giảm nhẹ vai trò của Đô la Mỹ. Cho nên, Trung Quốc vẫn đang liên tục vận động để SDRs dần thay thế đô la Mỹ trong dự trữ của các nền kinh tế. Năm ngoái, Trung Quốc đã đưa phó thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Dân làm cố vấn đặc biệt cho chủ tịch IMF Dominique Strauss Kahn nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình trên.

Rủi ro và thử thách

Mặc dù, Trung Quốc đang một số thành công nhất định trong việc “quốc tế hoá” và gia tăng vị thế NDT. Tuy nhiên, nỗ lực trên của Trung Quốc cũng đang vấp phải không ít khó khăn.

Trước hết, tham vọng có mặt trong rổ tiền tệ SDRs của Trung Quốc đã gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía Hoa Kỳ với lý do Trung Quốc vẫn chưa thả nổi tỷ giá NDT theo thị trường. Tại hội nghị bộ trưởng tài chính khối G20 vào cuối tháng trước, bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Timothy Geithner dù đồng ý là: “Theo thời gian, chúng tôi tin rằng các loại tiền tệ của các nền kinh tế lớn sử dụng nhiều trong các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế sẽ trở thành một phần của rổ tiền tệ SDRs”, nhưng ông Geithner cho rằng: “Để đạt được mục tiêu này, các nước liên quan cần phải có hệ thống tỷ giá linh hoạt, ngân hàng trung ương độc lập và cho phép các dòng vốn tự do”. Hoa Kỳ vẫn luôn chỉ trích rằng Trung Quốc đã không chịu thả nổi tỷ giá của NDT. Dù sao thì Hoa Kỳ vẫn có một vai trò lớn trong IMF nên sự phản đối từ Hoa Kỳ sẽ là cản lực lớn.

Không riêng gì Hoa Kỳ, ngay cả Pháp cũng ngầm cho rằng Trung Quốc phải tiến hành thả nổi tỷ giá NDT nếu muốn có mặt trong rổ tiền tệ SDRs. Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde cũng nhấn mạnh vào tính linh hoạt của tỷ giá tiền tệ và sự độc lập của ngân hàng trung ương. Qua đó, bà Christine Lagarde khẳng định sự thay đổi về việc DNT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs phụ thuộc vào chính quyền Trung Quốc. Ngay cả các thành viên của nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS, trong hội nghị thượng đỉnh vừa qua tại Trung Quốc, cũng chưa nhất trí để có được thoả thuận cho phép NDT có mặt trong rổ tiền tệ SDRs.

Bên cạnh thử thách để gia nhập rổ tiền tệ SDRs, dự trữ ngoại tệ khổng lồ trị giá hơn 3047 tỷ Đô la Mỹ, mà phần lớn là đô la Mỹ, cũng trở thành một rủi ro khi Đô la Mỹ mất giá mà Trung Quốc vẫn chưa có biện pháp “thanh lý” Đô la Mỹ trong kho dự trữ của mình. Các quốc gia khác vừa không mong muốn đô la Mỹ mất giá nhanh chóng khi đô la Mỹ vẫn là phương tiện dự trữ chính, cũng vừa không sẵn sàng “giảm tải” kho dự trữ khổng lồ trên cho Trung Quốc. Điều đó sẽ khiến cho quá trình đẩy mạnh vai trò dự trữ của SDRs bị chậm đi. Hiện tại, Trung Quốc chỉ đưa được NDT ra nước ngoài và tạo sự luân chuyển tốt hơn nhưng chưa có biện pháp giảm bớt dự trữ đô la Mỹ hay nói cách khác là Trung Quốc đang nan giải với kho dự trữ ngoại tệ, cũng giống như nan giải với tỷ giá linh hoạt vì nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu.

Chính vì thế, “quốc tế hoá” NDT sẽ là cuộc “vạn lý trường chinh” đầy thử thách của Trung Quốc.

Ngô Minh Trí - đăng trên tran 66-67 Thời báo Kinh tế Sài Gòn 28.04.2011

BONG BÓNG BẤT ĐỘNG SẢN: TIỀM ẨN NGUY CƠ MỚI

Giá nhà tại Trung Quốc đang tăng phi mã (Ảnh: First Post)

 “Bong bóng” bất động sản đang trở thành một nguy cơ tiềm ẩn cho một cuộc khủng hoảng mới bắt nguồn từ các nền kinh tế chịu ít ảnh hưởng hơn trong cuộc khủng hoảng vừa rồi.

Theo Wall Street Journal, trong khi giá nhà tăng nhanh chóng tại Úc, Canada, Trung Quốc, Hongkong, Israel, Singapore và Thuỵ Điển… thì giá nhà lại đứng yên hoặc giảm tại các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Ireland, Ý. Đó là sự tương phản giữa các nền kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng chậm (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU…) với các nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng cao (như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil…). Sự tương phản đó được Philip Suttle, thuộc Viện nghiên cứu tài chính quốc tế, gọi là “thế giới 2 – 6”: tăng trưởng và lạm phát tại các nền kinh tế phát triển vào khoảng 2%, còn ở các nền kinh tế mới nổi vào khoảng 6%. Theo đó, một số nhà quan sát cho rằng kinh tế toàn cầu đang là một “nền kinh tế lưỡng tốc”, tức nền kinh tế có hai tốc độ phát triển khác nhau.

Tuy nhiên, còn có một cách phân chia khác đối với kinh tế toàn cầu, đó là: Các nước bị khủng hoảng ngân hàng và các nước không bị khủng hoảng ngân hàng. Trong đó, giá nhà tại các nước không bị khủng hoảng ngân hàng đang ngày càng tăng nhanh.

Giải thích cho diễn biến trên, các chuyên gia kinh tế cho rằng việc tăng trưởng chậm chạp khiến cho các nền kinh tế phát triển giữ lãi suất ở mức thấp và điều kiện tín dụng dễ dàng. Cho đến nay, các nền kinh tế phát triển vẫn đang kiểm soát thị trường tài chính toàn cầu nên tín dụng toàn cầu cũng được nới lỏng.

Ngoài ra, mặc dù các nền kinh tế mới nổi không phải hứng chịu cuộc khủng hoảng ngân hàng, nhưng vì lo ngại ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nên các nước này cũng đã cắt giảm lãi suất khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Cho nên, tín dụng lại càng trở nên nới lỏng hơn nữa tại các nền kinh tế mới nổi vốn đang đối mặt với lạm phát cao. Thống đốc ngân hàng trung ương Israelđã phải thừa nhận rằng: “Ở các nước mà hệ thống ngân hàng không bị đe doạ nghiêm trọng trong cuộc khủng hoảng toàn cầu, giá nhà tăng lên rất nhanh. Đó là bởi vì khi lãi suất được cắt giảm mạnh mẽ để đối phó với cuộc khủng hoảng, lãi suất cho vay thế chấp cũng giảm nhanh chóng, người dân đã phản ứng bằng cách vay mượn để mua nhà, làm cho giá nhà tăng nhanh”.

Một ví dụ điển hình làIsrael. Mặc dù Israel không nằm trong nhóm các nước bị tác động tồi tệ của cuộc khủng hoảng ngân hàng, nhưng ngân hàng trung ương nước này vẫn cắt giảm lãi suất cơ bản xuống chỉ còn 0,5% để đối phó với cuộc khủng hoảng toàn cầu trong năm 2009. Cho nên, lãi suất vay thế chấp đã trở nên thấp hơn và giá nhà đã tăng đến 16,3%.

TạiCanada, các ngân hàng thương mại gần như không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nhưng ngân hàng trung ương vẫn giảm lãi suất cơ bản chỉ còn 1%. Hiệp hội bất động sảnCanadađã cho biết hậu quả là giá nhà trong tháng hai đã tăng 9% so với năm trước đó. Kinh khủng hơn, giá nhà tại Hongkong đã tăng đến 20% trong năm 2010 sau khi đã tăng đến 30% vào năm trước đó. Trong hai tháng đầu năm nay, giá nhà tại Hongkong cũng tăng đến 7%.

Tuy nhiên, lãi suất thấp đã không tạo ra diễn biến tương tự ở các nước có khủng hoảng bởi hệ thống ngân hàng của các nước này không còn thiết tha và sẵn sàng cho vay, khi mà họ vừa nhận được một bài học quá lớn. Tại Mỹ, kết quả mới đây nhất của chỉ số giá nhà S&P/Case-Shiller tại 20 thành phố đã giảm 3,1% so với năm trước và thấp hơn 29% so với giai đoạn đỉnh điểm năm 2006.

Nói một cách khác, vì muốn phục hồi mà các quốc gia từng tạo ra bong bóng bất động sản, gây ra cuộc khủng hoảng kinh hoàng vừa qua, đang làm thế giới bị tràn ngập tín dụng. Điều đó đang đe doạ tạo ra một bong bóng bất động sản mới ở các nước khác.

Ngô Minh Trí (Wall Street Journal) – đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 22.04.2011

CUBA CẢI CÁCH

Một góc phố ở La Havana, thủ đô Cuba (ảnh: Wikipedia)

Đại hội mới nhất của Đảng Cộng Sản Cuba đã chính thức thông qua kế hoạch cải tổ kinh tế với sự  “tư nhân hoá” rõ rệt hơn và lời kêu gọi “trẻ hoá” lực lượng lãnh đạo.

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng SảnCubađã diễn ra từ ngày 16 đến 19.04.2011 tại thủ đôHavana. Theo thông tấn xã Nga RIA Novosti thì đây là đại hội đầu tiên trong vòng mười bốn năm qua, nhưng là đại hội thứ sáu kể từ cuộc cách mạngCubavào năm 1959.

Cuba hôm nay

Những ngày diễn ra đại hội lần thứ mười bốn của Đảng Cộng Sản Cuba cũng là dịp kỷ niệm 50 năm sự kiện Vịnh Con Heo, cuộc xâm lược do một nhóm dân Cuba lưu vong thực hiện với sự hậu thuẫn của CIA vào ngày 17.04.1961.

Theo New York Times, để kỷ niệm cho sự kiện Vịnh Con Heo, một cuộc diễu hành quy mô lớn với hàng đoàn người mặc áo thun in hình Che Guevara và nhiều biểu tượng khác, tay vẫy cờ Cuba cùng với băng rôn, biểu ngữ và nhảy múa theo điệu salsa. Những người diễu hành đi dọc theo con đường ven bờ biển Malecón để đến Quảng trường Cách Mạng và không ngừng kêu vang: “Fidel muôn năm! Raúl muôn năm! Đảng Cộng Sản muôn năm!

Kể từ cuộc cách mạng Cuba đến nay, ông Fidel Castro, 83 tuổi, đã lãnh đạo đất nước trong 49 năm và chính thức từ chức vào năm 2008 để bàn giao chức vụ cho em trai ông là Raúl Castro, hiện 79 tuổi, nguyên là bộ trưởng bộ quốc phòng.

Trong hơn năm mươi năm qua, Đảng Cộng Sản Cuba, với sự lãnh đạo của hai anh em ông Fidel Castro và Raúl Castro, đã nỗ lực xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa tiến bộ. Đến nay, theo Thông tấn xã Nga RIA Novosti, mức lương tháng trung bình tại Cuba vào khoảng 20 đô la Mỹ, và một khoảng bao cấp, gấp ba lần so với lương trung bình trên, dành cho các dịch vụ về chăm sóc y tế, giáo dục, thực phẩm, hàng hoá khác, vận chuyển và trợ cấp công nghiệp. Tuy nhiên, ông Raúl Castro đã công bố sẽ bắt đầu giảm các trợ cấp của chính phủ dành cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, kết thúc khẩu phần thực phẩm và các sản phẩm khác (ngoại trừ những người thuộc nhóm nghèo nhất), mở rộng khu vực tư nhân đang khá khiêm tốn. Ông Raúl cho rằng bao cấp khẩu phần ăn cho tất cả người dân Cubalà một “gánh nặng quá sức”.

RIA Novosti cũng cho biết là theo các kinh tế giaCubathì việc cắt giảm trợ cấp sẽ tạo ra khoảng một triệu người thất nghiệp (một số con số khác cho rằng số thất nghiệp có thể lên đến 1,5 triệu). Đây là một thay đổi quan trọng với Cuba khi dân số nước này chỉ khoảng 11,5 triệu người và khoảng 85% người dân trong độ tuổi lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước.

Cải cách với sự kiên định

Trong đại hội, ông Raúl Castro đã biểu dương việc cấp hơn 180.000 giấy phép cho các kinh doanh nhỏ như bán café, thức ăn nhanh, thuê nhà… Theo Reuters, hơn 1000 đại biểu dự đại hội đã tham gia năm hội nghị riêng biệt để thảo luận khoảng hơn 300 cải cách cả về chính trị lẫn kinh tế. Theo đó, Cuba sẽ xây dựng một môi trường kinh doanh tốt hơn bằng việc mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, cụ thể hơn việc đánh thuế đối với hơn 200.000 lao động tự do mới hình thành. Ông Raúl  cũng khẳng định kế hoạch cắt giảm một triệu việc làm trong khu vực nhà nước, vốn được công bố vào năm ngoái, cũng sẽ được thực hiện “không vội vàng nhưng không tạm dừng”, bởi kế hoạch này đã tạm dừng lại trong thời gian qua. Khối doanh nghiệp nhà nước sẽ ít được hỗ trợ hơn và được trao quyền tự chủ nhiều hơn. Các thành viên tham gia đại hội cũng ủng hộ vể đề xuất định kỳ xem xét, điều chỉnh mức thuế theo từng khu vực để mức thuế không trở nên quá nặng nề trong các khu vực hoạt động kinh tế hiệu quả thấp.

Cubacũng quyết định sẽ nâng cao vai trò người nông dân cá thể, phân cấp nông nghiệp và cho thuê đất trồng trọt để tăng sản xuất lương thực. Quyền sở hữu nhà cửa cũng được đẩy mạnh bằng việc cho phép mua bán nhà. Hiện tại,Cubachỉ cho phép người dân trao đổi nhà cửa mà không cho phép mua bán, việc thanh toán mua bán nhà chỉ được giao dịch theo kiểu “chợ đen”. Nhà nước cũng sẽ giải quyết tình trạng nhà cửa đang căng thẳng bằng cách cung cấp các khoản vay nhỏ cho các nhà thầu tư nhân. Nhà nước cũng sẽ thực hiện cho vay để người dân thực hiện các kế hoạch kinh doanh.

Với những cải cách bước ngoặc như trên, ông Raúl Castro đã khẳng định rằng đó là “sự cập nhập” mô hình kinh tế cho Cuba để “đảm bảo tính liên tục cho xã hội chủ nghĩa ở Cuba”. Cựu chủ tịch Cuba Fidel Castro cũng cho đó là để “tiếp tục chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội cũng là một nghệ thuật của việc làm cho những điều không thể vẫn xảy ra”.

Chính vì sự đảm bảo tính liên tục của chủ nghĩa xã hội sau khi thế hệ của ông ra đi mà vấn đề tuổi tác trở thành mối lo ngại của chủ tịch Raúl Castro. Theo Reuters, ông Raúl Castro thừa nhận rằngCubachưa làm tốt công việc chuẩn bị đội ngũ kế thừa. Thế nên, ông Raúl Castro đã hứa sẽ “trẻ hoá” đội ngũ lãnh đạo và kêu gọi giới hạn hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ năm năm, đối với các vị trí lãnh đạo. Nếu giới hạn hai nhiệm kỳ trên được thực hiện, ông Raúl Castro sẽ còn có thể tại vị đến 86 tuổi, vào năm 2018, vì ông chỉ mới chính thức đảm nhiệm chức vụ từ năm 2008. Các chính trị gia trong hàng ngũ lãnh đạo hiện nay hầu hết nằm trong độ tuổi từ 70 đến 80, chỉ có hai gương mặt nổi bật ở độ tuổi 40 đến 50 là Lázaro Expósito, bí thư đảng thành phố Santiago de Cuba, và Lázara López Acea là lãnh đạo đảng tại Havana.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trang 64-65 Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 21.04.2011

NHỮNG CẢI CÁCH CỦA ÔNG RAÚL CASTRO

Mặc dù ông Raúl Castro chỉ chính thức nhậm chức chủ tịch vào năm 2008, nhưng thực tế thì ông đã được bắt đầu chuyển giao quyền lực từ năm 2006 và ông đã thực hiện một số cải cách kể từ đó:

Năm 2007: Ông Raúl cho rằng hệ thống phân phối sửa của nhà nước là “vô lý” và nói rằng nông dân sẽ cung cấp trực tiếp cho người dân. Ông cũng ra quy định sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước để thông qua một hệ thống quản lý “hoàn thiện”.

Năm 2008: Ông Raúl kêu gọi nỗ lực tìm cách để “loại bỏ bất cứ cản trở đối với lực lượng sản xuất. Trong một số khía cạnh, sáng kiến của địa phương có thể hiệu quả và khả thi”. Máy điện thoại di động, đầu DVD, thiết bị điện tử được bán cho công chúng. Cải cách nông nghiệp bắt đầu: tăng giá nhà nước chi trả cho nông dân, cho thuê đất bỏ hoang, nới lỏng các quy định về việc nông dân bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng.Cải cách cơ chế tiền lương theo năng suất lao động cá nhân. Chính phủ cho phép cấp tỉnh được quyền quyết định cước vận chuyển trong nước và xây dựng nhà ở.

Năm 2009:  Cải cách các cơ quan quản lý kinh tế nhà nước, chính phủ cắt giảm ngân sách và nhập khẩu, công bố các kế hoạch phát triển nông nghiệp ở các vùng ngoại ô xung quanh các thành phố và sử dụng chủ yếu là đất tư nhân. Raúl cải thiện “kỷ luật kinh tế” và trấn áp tham nhũng, kêu gọi “loại trừ các  dịch vụ miễn trừ và trợ cấp không đúng”. Cư dân miền núi củaSantiago và các thành phố lân cận được quyền phép bán trái cây và sản xuất tại các quán ven đường. Các nhà cung cấp thực phẩm được cấp phép.

Năm 2010: Chính quyền thành phố được lệnh phải xây dựng kế hoạch kinh tế mà có thể có cả các hợp tác xã và các doanh nghiệp nhỏ. Thực hiện thí điểm, tạiHavana, cho tài xế xe taxi thuê xe để kinh doanh thay vì nhận lương từ nhà nước. Luật xây dựng và cải tạo nhà được tự do hoá, tiệm hớt tóc và mỹ viện có ba ghế được đổi sang hệ thống cho thuê. Người dân được tự do mua vật liệu xây dựng, nông dân có vườn được phép bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Thời hạn thuê đất dành cho các công ty nước ngoài được tăng lên từ 50 năm thành 99 năm cho các dự án phát triển du lịch và giải trí. Người nông dân được phép mua vật tư bằng tiền tại các cửa hàng mà không còn chịu các quy định. Chính phủ thông báo cắt giảm 500.000 biên chế nhà nước và cấp 250.000 giấy phép mới cho các hộ kinh doanh trong thời gian sáu tháng. Các hộ kinh doanh được phép thuê lao động.

(Theo Reuters)

NHẬT BẢN: SÓNG THẦN ĐẨY SẢN XUẤT RA NƯỚC NGOÀI

Sản phẩm làm ra bị động đất và sóng thần vùi dập ở Nhật Bản khiến các doanh nghiệp muốn chuyển hoạt động ra nước ngoài (Ảnh: NYT)

Cơn thiên tai kép vừa qua cùng với cuộc khủng hoảng hạt nhân đã khiến ngành công nghiệp Nhật Bản phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiểm ẩn và những tác hại lâu dài. Chính vì thế, các doanh nghiệp nước này đang xem xét chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài.

Cuộc khủng hoảng thiên tai và hạt nhân lần này tại Nhật Bản không chỉ phá sập những tòa nhà, san phẳng các thành phố mà còn tác động mạnh đến nền kinh tế. Một tháng sau cơn thảm họa, hoạt động sản xuất tại Nhật Bản vẫn còn bị đình trệ vì cơ sở hạ tầng hư hại và nguồn cung cấp điện không đáp ứng đủ. Về lâu dài, thiên tai vẫn là mối đe dọa mà nền sản xuất Nhật Bản không ứng phó nổi.

Chính vì những tác động lâu dài đó, các doanh nghiệp Nhật Bản đang xem xét đến việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài. Ông Heizo Takenata, Bộ trưởng kinh tế Nhật Bản vào đầu những năm 2000, nhận xét: “Động đất và sóng thần làm tăng nguy cơ của Nhật Bản” và “điều đó thúc đẩy thêm nhiều công ty nhanh chóng di chuyển các nhà máy ra nước ngoài”.

Dù cho Nhật Bản được biết đến với khả năng thích nghi cao các thảm họa thiên nhiên như sóng thần và động đất thể hiện qua khả năng phục hồi nhanh chóng sau cuộc động đất tại Kobe vào năm 1995, nhưng quy mô của thảm họa hiện nay lớn hơn nhiều.

Theo nhận định của ông Takenata thì Nhật Bản mất đến 5% vốn liếng trong thiên tai vừa qua, cao hơn nhiều so với 2% trong cuộc động đất tại Kobe. Ngoài ra, bức xạ lan rộng từFukushimalà điều chưa từng có. Lần này, Nhật Bản cũng khó có khả năng phục hồi như lần trước khi hiện tại nước này đang trong tình trạng nợ nần tăng cao và có ít thuận lợi hơn các đối thủ tại châu Á.

Một ví dụ là Công ty Renesac Electronic của Nhật Bản, là một trong những nhà sản xuất bộ vi xử lý hàng đầu thế giới.

Trước khi động đất xảy ra, Renesac Electronic đã thuê gia công tại nước ngoài khoảng 8% số chip của nó và dự kiến tăng tỷ lệ này lên thành 25% vào năm 2013. Nhưng hiện nay sau động đất, Renesac lập kế hoạch tăng tỷ lệ này lên cao hơn nữa và cho biết đang đàm phán để đưa việc sản xuất bộ vi xử lý điều khiển xe hơi, vốn đang được sản xuất toàn bộ tại Nhật Bản, sang một nhà máy tại Singapore thuộc sở hữu của GlobalFoundries Inc có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ. Renesas lo ngại việc trì trệ trong sản xuất có thể khiến nó mất đi các hợp đồng từ các nhà sản xuất ô tô thế giới.

Horio Seisakusho Co là nhà sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau, là một công ty chỉ có 52 công nhân nhưng chiếm đến 30% thị phần thiết bị quang học trong các đầu đĩa Blu-ray và đĩa phim. Mặc dù Horio Seisakusho Co hiện đang có hai nhà máy tại Trung Quốc và chưa có kế hoạch chuyển dịch ngay sản xuất ra nước ngoài nhưng công ty này cũng chịu một áp lực và giống như nhiều công ty khác.

Masahiko Horio, Tổng giám đốc của Horio Seisakusho Co, nói rằng: “Có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ giống chúng tôi tại khu vực này, một số chủ doanh nghiệp lo ngại sẽ mất đi công việc làm ăn nếu không giao hàng đúng hẹn”. Mặc dù việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài không phải đơn giản, nhưng mọi công ty bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn đều có kế hoạch thực hiện.

Xu hướng này sẽ càng trở nên phổ biến hơn, khi nhiều công ty từng cam kết rằng các công ty Nhật Bản nên sản xuất ngay trong nước, nhưng trong thực tế vẫn có kế hoạch chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài ngay cả khi chưa xảy ra thảm họa. Một trong những lý do của sự dịch chuyển này là chi phí lao động cao cùng những quy định chặt chẽ về môi trường của Nhật Bản.

Những bất ổn do thiên tai gây ra càng làm cho xu thế chuyển dịch sản xuất đó mạnh thêm lên. Tập đoàn xe hơi Nissan là một ví dụ. Dù Nissan chỉ sản xuất 25% số lượng xe hơi của mình tại Nhật Bản, nhưng đã chuyển việc sản xuất nhiều mẫu xe ra nước ngoài từ năm ngoái. Nissan cũng cho biết sẽ tạm thời nhập khẩu động cơ V6 từ nhà máy ở Decherd, Tennessee, Hoa Kỳ, thay cho sản lượng bị giảm đi sau khi nhà máy tại Iwaki bị hư hại thay vì nỗ lực khôi phục nhà máy này.

Yoshio Ishizaka, cựu cố vấn điều hành của Toyota Motor, nói rằng: “Tôi nghĩ rằng vẫn đang có một số khu vực thuộc nền công nghiệp Nhật Bản nên xem xét việc chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài”. Mặc dùToyotalên tiếng phủ nhận, nhưng nhiều nguồn tin cho rằng hãng ô tô này sẽ đóng cửa nhiều cơ sở cũ của nó tại Nhật Bản.

Cách khu vực xảy ra động đất hàng trăm dặm, Công ty Nakayama Iron Works Ltd, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất máy nghiền đá, băng tải dây đai, máy tái chế nhựa đường dùng trong xây dựng đường sá, cũng đang tìm kiếm các nhà cung cấp tại Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan để đảm bảo nguồn cung cấp các linh kiện quan trọng vốn được sản xuất tại Nhật Bản.

Tất nhiên, khi xu hướng chuyển dịch thực sự diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia có ưu thế về nhân công, chi phí sản xuất thấp sẽ chính là những điểm đến hấp dẫn cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Việt Nam, có quá trình hợp tác lâu dài với các doanh nghiệp Nhật Bản, có thể tận dụng cơ hội mới này để đẩy mạnh công nghiệp hóa nếu biết cải thiện nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và môi trường pháp lý.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 14.04.2011

MỸ CẮT GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH: BẤT ĐỒNG SÂU SẮC

Ông Obama cam kết duy trì chính sách về y tế, trái với kế hoạch của đảng Cộng hoà muốn cắt giảm chi tiêu cho chính sách này (Ảnh: AP)

Kế hoạch cắt giảm ngân sách mới công bố của tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã bị chỉ trích gay gắt từ đảng Cộng hòa, khiến bất đồng giữa hai đảng về ngân sách càng trở nên sâu sắc hơn.

Ngày 13.04 vừa qua, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã có bài phát biểu kéo dài hơn bốn mươi phút tại đại học George Washington. Nội dung của bài phát biểu nói về vấn đề chi tiêu và ngân sách của Hoa Kỳ. Trong đó, tổng thống Obama đã chính thức loan báo một kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách 4000 tỷ USD trong thời gian mười hai năm. Theo kế hoạch, ông Obama sẽ thực hiện cắt giảm chi tiêu khoảng 750 tỷ, cắt giảm ngân sách quốc phòng khoảng 400 tỷ, cải cách chính sách thuê và tiếp tục các cải cách y tế để tiết kiệm cho ngân sách.

Obama “tấn công bất ngờ”

Trước khi Obama loan báo kế hoạch của mình, đảng Cộng hòa đã đề xuất một kế hoạch khác để cắt giảm thâm hụt ngân sách, tác giả là nghị sỹ Paul D. Ryan của bang Wiscosin kiêm chủ tịch Ủy ban ngân sách hạ viện, trị giá 4.400 tỷ USD trong thời gian mười năm. Kế hoạch của đảng Cộng hòa không chỉ có mức độ cắt giảm sâu hơn, nhanh hơn mà còn có nhiều khác biệt so với kế hoạch của tổng thống Obama. Hai khác biệt lớn nhất chính là vấn đề cải cách chính sách y tế và chính sách thuế.

Thế nên, trong bài phát biểu loan báo kế hoạch của mình, tổng thống Barack Obama cũng lên tiếng chỉ trích kế hoạch của đảng Cộng hòa. Ông Obama cho rằng kế hoạch cải tổ chính sách  y tế của đảng Cộng hòa sẽ cắt giảm ngân sách bằng cách bắt những người già và người nghèo trả tiền cho các dịch vụ y tế, trong khi kế hoạch của ông sẽ cắt giảm bằng cách cắt giảm chi phí trong chi tiêu của lĩnh vực y tế và sức khỏe. Theo ông Obama, chính sách cải cách y tế của ông sẽ giảm bớt các khoản trợ cấp lãng phí và các thanh toán không chính xác.

Bàn về chính sách thuế, Obama cho rằng: “Trong tháng mười hai vừa qua, tôi đồng ý gia hạn cắt giảm thuế cho những người Mỹ giàu có nhất bởi vì đó là cách duy nhất tôi có thể ngăn chặn việc tăng thuế của những người Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu”. Vì thế, tổng thống Obama tuyên bố mình sẽ thay đổi để tăng cường đánh thuế người giàu, cắt giảm khấu trừ thuế để có thể đem lại khoản cắt giảm thâm hụt lên đến 1000 tỷ USD trong mười năm.

Sự chỉ trích kế hoạch của tổng thống Obama được Wall Street Journal nhận định là một cuộc “tấn công bất ngờ” vào chính sách của đảng Cộng hòa và của cá nhân thượng nghị sỹ Paul D. Ryan, tổn hại hơn đến hy vọng mong manh về việc hai đảng có thể thỏa thuận được vấn đề ngân sách.

Cộng hòa “phản pháo”

Theo Wall Street Journal, đảng Cộng hòa đã nhanh chóng chỉ trích rằng phát biểu của ông Obama là quá mang tính đảng phái. Phản ứng về phát biểu của tổng thống Obama, Paul D. Ryan cho rằng ông hy vọng hai đảng có thể tìm được tiếng nói chung về việc kiểm soát chi tiêu và cải cách chính sách y tế, nhưng luận điệu “hiếu chiến” của Obama làm cho thỏa thuận trở nên khó khăn hơn. Nghị sỹ Paul D.Ryan cho rằng tổng thống Obama “thay vì xây cầu, ông ấy lại hủy hoại sự tốt đẹp”.

Chủ tịch hạ viện John A. Boehner cũng chỉ trích kế hoạch của ông Obama khi cho rằng kế hoạch của đảng Cộng hòa là “đưa chúng ta vào con đường trả nợ, giúp bảo toàn chăm sóc y tế và trợ giúp y tế trong tương lai”, nhưng “tôi không nghe thấy một kế hoạch phù hợp như thế từ tổng thống Obama”. Không dừng lại ở đó, theo New York Times, ông John A. Boehner còn lặp lại sự đe dọa rằng sẽ không thông qua việc tăng trần nợ công theo đề xuất từ phía Nhà Trắng trừ khi chính phủ đồng ý kiềm chế chi tiêu và thâm hụt.

Trước những bất đồng đang trở nên sấu sắc hơn giữa tổng thống Obama và đảng Cộng hòa, New York Times bình luận rằng: “Kế hoạch nợ của Obama thiết lập một giai đoạn tranh luận dài hơi về vấn đề chi tiêu”.

Ngô Minh Trí – đăng trên SGTT Online

TRUNG QUỐC THÂM HỤT THƯƠNG MẠI TRONG QUÝ I: KHÔNG NHIỀU BẤT NGỜ

Vải nhập khẩu từ Trung Quốc được bày bán ở Kano, đông bắc Nigeria (Ảnh: Reuters)

Tuy đạt thặng dư thương mại trong tháng 3, nhưng tính chung, trong quý đầu năm, nền kinh tế được mệnh danh là công xưởng của thế giới đã phải nhập siêu.

Theo số liệu do tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố vào ngày 10.4.2011, xuất khẩu trong tháng 3 của nước này đã tăng 35,8% và nhập khẩu tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt thặng dư thương mại 140 triệu USD. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thâm hụt thương mại trầm trọng vào tháng trước với con số lên đến 7,3 tỉ USD, nên tính theo cả quý 1 năm nay thì Trung Quốc vẫn thâm hụt 1,02 tỉ USD. Trong quý 1 vừa qua, Trung Quốc đã nhập khẩu 400,66 tỉ USD và xuất khẩu 399,64 tỉ USD.

Tác động của lạm phát?

Sau khi Trung Quốc công bố con số thâm hụt trên, có nhiều phân tích đánh giá về sự kiện này. Nhiều đánh giá cho rằng đó là kết quả của việc lạm phát tăng nhanh tại Trung Quốc khiến cho giá thành sản xuất tăng cao, giảm lợi thế cạnh tranh của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Nhưng trong thực tế, Trung Quốc vẫn đạt được thặng dư thương mại trong tháng 3 từ mức thâm hụt đáng kể của tháng trước, bất chấp lạm phát tăng đến con số 5%. Chính vì thế, lạm phát có thể tạo ra tác động đối với cán cân thương mại của Trung Quốc nhưng khó có thể là nguyên nhân chính.

Một nguyên nhân mà nhiều chuyên gia cũng như báo giới quốc tế nhận định đó là chu kỳ mùa vụ khi Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu mạnh mẽ vào giai đoạn đầu năm. Theo đó, các nhà sản xuất Trung Quốc thường có xu hướng nhập khẩu nguyên vật liệu chuẩn bị cho việc sản xuất trong khoảng thời gian còn lại của năm. Tháng 3 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã nhập siêu đến 7,24 tỉ USD nhưng tính trên cả năm thì nước này vẫn đạt thặng dư thương mại đến hơn 180 tỉ USD.

Xu hướng nhập khẩu nguyên liệu vào giai đoạn đầu năm cũng đã khiến cho nhập khẩu của Trung Quốc bị tác động đáng kể khi giá cả thế giới tăng cao trong thời gian qua. Theo Reuters, giá cả của nguyên vật liệu và năng lượng “đầu vào” của Trung Quốc đã tăng đến 29,7%. Một số nguyên vật liệu quan trọng cho sản xuất Trung Quốc đã tăng khá cao, ví dụ giá nhập khẩu quặng sắt, nguyên liệu chính của các nhà sản xuất thép Trung Quốc, đã tăng đến 59,5% so với quý 1 năm trước và làm cho giá trị nhập khẩu quặng sắt tăng đến 82%, đạt mức 27,7 tỉ USD, trong khi số lượng quặng sắt nhập khẩu chỉ tăng 14,4%. Đó là chưa kể giá dầu thô tăng cao cũng khiến cho lượng dầu nhập khẩu chỉ tăng 12% nhưng lại tăng đến 39% giá trị, giá trị nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc trong quý 1 đã lên đến 43,7 tỉ USD. Theo ý kiến của chuyên gia Mark Williams của Capital Economics trên Wall Street Journal thì nếu giá cả thế giới không tăng nhanh, Trung Quốc có thể đạt đến 25 tỉ USD thặng dư thương mại trong cả quý 1 năm nay.

Dự báo thặng dư thương mại lớn

Do giá cả thế giới tăng cao là một diễn biến chung của kinh tế toàn cầu, nên kết quả nhập siêu của Trung Quốc thực sự không mang lại nhiều bất ngờ. Ngược lại, con số thặng dư thương mại trong tháng 3 của Trung Quốc là một sự bất ngờ. Theo Reuters, nhiều chuyên gia từng cho rằng trong tháng 3, nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng 19,5% và xuất khẩu sẽ 21% so với cùng kỳ năm trước nên sẽ tạo ra thâm hụt thương mại 4,2 tỉ USD. Còn một khảo sát khác của Bloomberg thì cho rằng thâm hụt thương mại của Trung Quốc trong tháng 3 sẽ vào khoảng 3,35 tỉ USD. Như vậy, kết quả nhập siêu trên cả quý 1 của Trung Quốc vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia.

Chính vì thế, theo nhiều nhận định thì Trung Quốc vẫn đạt được mức thặng dư thương mại đáng kể trong cả năm 2011. Theo Wall Street Journal, chuyên gia kinh tế về Trung Quốc của UBS là Wang Tao cho rằng Trung Quốc sẽ vẫn đạt thặng dư thương mại đến 150 tỉ USD trong năm 2011, còn Xianfang Ren và Alistair Thornton của HIS Global Insight thì cho rằng con số thặng dư thương mại trong năm 2011 của Trung Quốc là 250 tỉ USD.

Ngô Minh Tríđăng trên Sài Gòn Tiếp Thị 13.04.2011

NỢ CÔNG: QUẢ BOM CHỜ THÁO NGÒI

Sau ngân sách, chính phủ của ông Barack Obama lại phải đối mặt với mức trần nợ công (ảnh: SGTT)

Ngày 6.4.2011, Bồ Đào Nha đã phải chính thức lên tiếng kêu gọi trợ giúp tài chính từ Liên minh châu Âu (EU) để giải quyết khủng hoảng nợ công. Năm ngoái, khi EU ra tay cứu trợ cho Hy Lạp và Ireland thì Bồ Đào Nha đã nằm trong nhóm “nguy cơ vỡ nợ” cùng với Tây Ban Nha, Ý.

Khi đó, EU đã ra sức thực hiện các chính sách “thắt lưng buộc bụng” cùng nhiều biện pháp khác với hy vọng sẽ giảm thâm hụt ngân sách cũng như nợ công của các thành viên trong khối. Thế nên, thực tế của Bồ Đào Nha hiện tại đã chứng minh các biện pháp của EU đã không hiệu quả. Như vậy, nguy cơ về những cuộc vỡ nợ tiếp theo ở EU là hoàn toàn có thể.

Không riêng gì EU, bên kia Đại Tây Dương, nợ công cũng đang trở thành vấn đề nóng tại Hoa Kỳ. Theo bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Timothy Geithner thì nợ công của Hoa Kỳ sẽ đụng mức trần cho phép 14.294 tỉ USD trước ngày 16.5.2011. Ông Geithner đã phải khẩn thiết kêu gọi quốc hội nhanh chóng cho phép nâng mức trần nợ công. Thế nhưng, trong lưỡng viện Hoa Kỳ, người thì phản đối nâng trần nợ công, người thì đòi hỏi nâng trần nợ công phải đi kèm với việc cắt giảm chi tiêu. Mặc dù cuộc tranh luận tỏ ra rất gay gắt, nhưng rồi quốc hội cũng sẽ phải nâng trần nợ công, bởi nếu không nâng trần nợ công thì Hoa Kỳ lấy đâu ra ngân sách hoạt động, ngay cả khi ngân sách được thông qua, vì nước này đang thâm hụt ngân sách đến 1.400 tỷ USD.

Kể từ năm 1940 đến nay, trần nợ công Hoa Kỳ đã phình to gấp khoảng 300 lần, trần nợ công năm 1940 chỉ có 43 tỉ USD. Nếu tính từ năm 1995, với trần nợ công 4.900 tỉ USD, thì trần nợ công gấp khoảng ba lần cho đến thời điểm này. Cứ như thế, nợ công của Hoa Kỳ ngày càng phình to và nhiều quốc gia trên thế giới cũng vậy.

Một nguyên tắc tất yếu là không có thứ gì có thể phình to mãi nếu không có những điều kiện phát triển tương xứng. Hoa Kỳ, các thành viên EU cùng nhiều quốc gia trên thế giới đang có nợ công phình to với mức độ cao hơn nhiều so với sự tăng trưởng. Hơn thế nữa, khi nợ công cứ tăng nhanh sẽ làm cho lãi suất tăng cao khiến cho hiệu quả đầu tư để tăng trưởng sẽ lại càng giảm đi.

Cho nên, viễn cảnh về việc “bể bong bóng nợ công” là rất rõ ràng. Khi ấy, hậu quả là khủng khiếp. Mới đây, ông Timothy Geithner cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ vỡ nợ vì nợ công đụng trần thì việc vỡ nợ sẽ tạo ra cuộc “không thể tưởng tượng nỗi”. Quả thực, nếu Hoa Kỳ vỡ nợ thì một hiệu ứng domino dễ dàng xảy ra và một cuộc vỡ nợ lan rộng sẽ là thảm họa của thế giới.

Trung Quốc đang lo ngại vì nước này đang là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với con số lên đến 1.175 tỉ USD, nhưng Trung Quốc cũng không thể không tiếp tục cho Mỹ vay nợ. Nếu Trung Quốc không tiếp tục cho Hoa Kỳ vay thì kinh tế nước này cũng lao đao vì Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào việc bán hàng cho Mỹ.

Cứ như thế, nợ công như một quả bom đe dọa kinh tế toàn cầu đang chờ được tháo ngòi

Ngô Minh Tríđăng trên Sài Gòn Tiếp Thị Online

 

THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TỬ – ĐIỆN MÁY: BỨC TRANH NHẠT

(ảnh: sohoa.net)

Mặc dù được biết như một thị trường sôi động với nhiều sản phẩm mới liên tục xuất hiện, tạo được sự quan tâm của người tiêu dùng, nhưng kết quả nghiên cứu thị trường cho thấy bức tranh của thị trường điện tử, điện máy cũng như thiết bị công nghệ trong năm 2010 không phải là đặc sắc.

Mới đây, Công ty Nghiên cứu thị trường GfK đã chính thức công bố kết quả khảo sát các nhãn hiệu dẫn đầu thị trường Việt Nam năm 2010 ở các ngành hàng điện tử tiêu dùng, điện máy cũng như các sản phẩm công nghệ. So với năm 2009, kết quả khảo sát của GfK cho thấy không có nhiều thay đổi về các nhãn hàng dẫn đầu thị trường.

Nokia tiếp tục dẫn đầu thị trường điện thoại di động Việt Nam, một vị trí Nokia đã liên tục nắm giữ trong nhiều năm qua. Mặc dù GfK không công bố các con số chi tiết của các nhãn hiệu trên thị trường điện thoại di động, nhưng theo giới kinh doanh thì các thương hiệu điện thoại di động do doanh nghiệp Việt Nam phát triển như Q.Mobile,F-Mobile đã có những bước tăng trưởng đáng kể, gây áp lực lên thị phần của các thương hiệu lớn. Tương tự ngành điện thoại di động, nhiều ngành hàng khác như lò vi sóng (Sanyo), màn hình máy tính (Samsung), máy điều hòa không khí ( Panasonic), máy tính để bàn (Compaq)… cũng không có sự thay đổi về vị trí quán quân trên thị trường.

Cuộc soán ngôi nổi bật nhất thuộc về Acer, khi nhãn hàng này chính thức vượt qua HP để dành vị trí quán quân trên thị trường máy tính xách tay. Vị trí dẫn đầu của Acer tỏ ra rất vững chắc khi nhãn hàng này có đến ba sản phẩm nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất trên thị trường Việt Nam trong năm qua.

Ngược lại, HP không những đánh mất vị trí dẫn đầu, mà hãng này cũng không có bất cứ sản phẩm nào nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất trong năm. Dell cũng tạo được dấu ấn đáng kể trên thị trường máy tính xách tay năm 2010 khi ba vị trí thứ bảy, thứ tám và thứ mười của nhóm mười sản phẩm đều thuộc về thương hiệu này. Nhãn hàng “anh em” của HP là Compaq tuy đứng đầu bảng trên thị trường máy tính để bàn nhưng chỉ có một sản phẩm duy nhất nằm trong danh sách mười sản phẩm bán chạy nhất trên thị trường máy tính xách tay.

Bên cạnh đó, do có sự thay đổi về tiêu chí nghiên cứu, nên đã có sự thay đổi kết quả ở một số ngành hàng.

Năm 2009, vị trí quán quân ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số thuộc về Canon. Trong năm 2010, ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số, ngành hàng máy ảnh kỹ thuật số đã được chia thành 2 nhóm là máy ảnh kỹ thuật số du lịch do Sony dẫn đầu và máy ảnh kỹ thuật số ống kính rời do Canon dẫn đầu. Tuy nhiên, tính chung cho cả ngành máy ảnh kỹ thuật số thì Sony tạo được ấn tượng tốt khi có đến bốn sản phẩm nằm trong số mười sản phẩm bán chạy nhất, trong khi Canon chỉ có ba. Các sản phẩm máy ảnh kỹ thuật số của Sony chiếm lĩnh các vị trí nhứ nhất, nhì, bảy và chín, còn các sản phẩm của Canon chiếm ba vị trí liên tiếp là bốn, năm, sáu.

Sự thay đổi cách đánh giá cũng xuất hiện trong ngành hàng máy in. Năm 2009, GfK đã phân chia máy in thành 2 ngành hàng nhỏ là máy in đa chức năng và máy in đơn chức năng với vị trí quán quân lần lượt thuộc về HP và Canon. Trong kết quả nghiên cứu năm 2010, GfK lại phân chia máy in thành hai ngành hàng là máy in phun và máy in Laser. Với sự thay đổi cách thức phân chia như trên, Canon đã dẫn đầu thị trường máy in laser và Epson đứng đầu thị trường máy in phun, trong khi HP lại mất tên ở ngành hàng máy in nói chung bên cạnh ngành hàng máy tính xách tay.

Cũng theo số liệu của GfK, hầu hết các ngành hàng đã không có được những con số tăng trưởng ấn tượng. Trong đó, sản phẩm máy tính để bàn tiếp tục cho thấy những dấu hiệu của sự bão hòa. Số lượng máy tính để bàn bán ra đã giảm từ 531.520 máy năm 2009 xuống 438.250 máy năm 2010.

Mặc dù không bị giảm sút nhưng ngành hàng máy thiết bị văn phòng có sự tăng trưởng khá chậm. Ví dụ như ngành hàng máy in chỉ tăng trưởng khiêm tốn, từ mức 223.000 máy bán ra trong năm 2009 tăng lên 227.000 máy năm 2010, hay dòng máy in đa chức năng cũng chỉ tăng trưởng từ mức 53.000 máy bán ra năm 2009 lên 54.800 máy trong năm 2010.

Thị trường máy ảnh kỹ thuật số có phần tươi sáng hơn khi lượng tiêu thụ của tháng 12-2010 đạt đến 38.600 máy so với con số 31.900 máy của tháng 12-2009. Sự tăng trưởng chỉ thực sự ấn tượng ở ngành hàng máy tính xách tay và các loại màn hình tivi LCD,plasma. Số lượng máy tính xách tay bán ra đã tăng nhanh từ con số 31.180 chiếc của tháng 12-2009 lên 51.960 chiếc trong tháng 12-2010. Hay tổng số màn hình LCD và Plasma cũng tăng gần 50% từ mức 104.000 chiếc bán ra trong tháng 12-2009 lên 149.000 chiếc trong tháng 12-2010.

Ngô Minh Tríđăng trên trang 28, 29 Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 07.04.2011

HOA KỲ: CÚ SỐC MỚI VỀ NỢ CÔNG

Ông Timothy Geithner cho rằng nếu nợ công Hoa Kỳ không được nâng cao mức trần thì đó là "thảm họa" (ảnh: Reuters)

Chính phủ Hoa Kỳ đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt ngân sách vào tháng 5 tới đây, nếu quốc hội nước này không nâng mức trần nợ công.

“Thảm họa” nợ công đụng trần

Mới đây, bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Timothy Geithner đã chính thức đệ đơn lên quốc hội đề nghị nâng mức trần dành cho nợ công của Hoa Kỳ, khi tình hình nợ công nước này tăng nhanh và gần chạm đến mức trần được phép. Hiện tại, quy định về mức trần nợ công của Hoa Kỳ đang là 14.294 tỷ đô la Mỹ, trong khi mức nợ của Hoa Kỳ tính đến ngày 31.03.2011 đã đạt con số kỷ lục mới là 14.218 tỷ đô la Mỹ và vẫn còn tiếp tục tăng lên. Theo ước tính của bộ Ngân khố Hoa Kỳ, với mức độ tăng lên hiện nay thì nợ của Hoa Kỳ sẽ cán mức trần không muộn hơn ngày 16.05.2011. Nếu nợ công đạt mức trần thì Hoa Kỳ, về nguyên tắc, xem như vỡ nợ.

Trong trường hợp quốc hội chưa thông qua việc nâng mức trần nợ công, bộ Ngân khố có thể thực hiện một số biện pháp để kéo dài thời gian như: đình chỉ phát hành chứng khoán chính quyền địa phương và chính quyền bang, khai thác nguồn tiền từ quỹ hưu trí của chính phủ và sử dụng quỹ bình ổn giá. Các biện pháp trên có thể giúp giải tỏa thêm được khoảng 230 tỷ đô la Mỹ, trong khi mức tăng nợ hàng tháng  khoảng 125 tỷ đô la, tức kéo dài thêm được tối đa khoảng 8 tuần. Như thế, thời hạn kéo dài cũng không thể vượt qua ngày 08.07.2011. Cho nên, ông Geithner đã phải đề nghị quốc hội cần phải nhanh chóng nâng mức trần công nợ.

Tháng giêng vừa rồi, ông Geithner đã một lần đề nghị quốc hội nhanh chóng nâng mức trần nợ trong tháng ba. Thế nhưng, cuộc tranh luận dai dẳng về ngân sách đã không chỉ làm cho chính phủ có khả năng ngừng hoạt động vì không có ngân sách, mà còn làm cho đề nghị nâng mức trần công nợ của bộ Ngân khố chưa đạt được bước tiến nào. Chính vì thế, lần đệ trình này, bộ trưởng Ngân khố Timothy Geithner đã cảnh báo những nguy cơ hiện hữu nếu mức trần nợ công không sớm được thông qua.

Đồng tình với ý kiến của bộ trưởng Ngân khố Timothy Geithner, chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang Mỹ cũng cho rằng nếu mức trần công nợ không được tăng lên thì sẽ gây ra “hậu quả thảm khốc”. Hay tổng giám đốc điều hành của JPMorgan Chase & Co là Jamie Dimon cũng đã nói trong một sự kiện của Phòng thương mại Hoa Kỳ rằng: “nếu Hoa Kỳ thực sự vỡ nợ thì đó là một thảm họa”.

“Miếng mồi” cho cuộc mặc cả

Mặc dù tình hình rất cấp bách, nhưng dường như chính ông Timothy Geithner cũng sớm nhìn thấy mọi việc khó có thể suôn sẻ. Thế nên, ông Geithner đã kêu gọi: “điều quan trọng là quốc hội phải tăng giới hạn nợ để niềm tin trọn vẹn và tín dụng của Hoa Kỳ được bảo vệ” và cho rằng việc tăng giới hạn nợ “chỉ đơn giản là cho phép bộ ngân khố cung cấp tài chính theo đúng trách nhiệm mà quốc hội đã cho phép”.

Tuy nhiên, lời kêu gọi trên của ông Geithner vẫn chưa đủ sức thuyết phục nhiều thành viên quốc hội. Nhiều nghị sỹ đảng Cộng Hòa đã thẳng thừng từ chối bỏ phiếu. Một số nghị sỹ khác cho rằng chỉ bỏ phiếu thông qua việc tăng mức trần nợ kết hợp với việc cắt giảm chi tiêu một cách đáng kể.

Theo người phát ngôn của hạ viện là Micheal Steel thì chủ tịch hạ viện John Boehner đưa ra một thông điệp rõ ràng rằng: “Người dân Mỹ sẽ không tha thứ cho việc gia tăng mức trần công nợ mà không cắt giảm chi tiêu một cách nghiêm túc và cải cách nghiêm chỉnh để đảm bảo rằng chúng ta vẫn đang cắt giảm chi tiêu”. Thượng nghị sỹ Marco Rubio, thuộc đảng Cộng hòa tại bang Florida, cho biết ông sẽ không chấp nhận việc tăng mức trần nợ công mà không có một loạt các cải cách về thuế và chi tiêu. Trong cuộc phỏng vấn với chương trình truyền hình Fox News vào ngày 29.03, ông Rubio cho rằng: “chúng ta cần phải sử dụng chính việc giới hạn nợ như một cách để đảm bảo rằng giới hạn công nợ sẽ bắt đầu giảm xuống chứ không phải luôn luôn tăng  lên” và “Làm thế nào để giới hạn nợ đi xuống? Đây là điều mà chúng tôi quan tâm”.

Hiện tại, vấn đề cắt giảm chi tiêu cũng đang là mối bất đồng sâu sắc trong quốc hội Hoa Kỳ. Ngày 19.02 vừa qua, hạ viện do đảng Cộng hòa đang chiếm đa số đã quyết định cắt giảm 61 tỷ đô la Mỹ trong tổng số ngân sách. Thế nhưng, sau đó thượng viện do đảng Dân chủ chiếm đa số đã lập tức bác bỏ và đảng Cộng hòa vẫn đang cố gắng để thông qua mức cắt giảm 31 tỷ đô la Mỹ. Bất đồng trong việc cắt giảm chi tiêu từng khiến nhiều người lo ngại ngân sách sẽ được thông qua trễ khiến cho chính phủ Mỹ sẽ phải ngừng hoạt động vì hết tiền vào ngày 08.04.2011.

Thế nên, đề nghị tăng mức trần nợ lần này của chính phủ có thể trở thành miếng mồi cho một cuộc mặc cả trong vấn đề cắt giảm ngân sách mà hai đảng đang cằn cựa nhau. Theo ông Collender Stanley, giám đốc điều hành của Qorvis Communications và từng là một nhà phân tích ngân sách của quốc hội, cho rằng: “Nếu chính phủ ngưng hoạt động và đảng Cộng hòa thất bại (trong việc cắt giảm ngân sách), thì trần nợ sẽ phải giảm xuống. Còn nếu đảng Dân chủ hay Nhà Trắng thất bại thì trần nợ sẽ phải tăng lên”. Chính vì thế, theo ông Stanley thì phải đến sau khi ngân sách được thông qua thì mới có thể biết được việc tăng mức trần nợ được thông qua như thế nào.

Ngô Minh Trí – đăng trên trang 68 Thời báo Kinh Tế Sài Gòn 07.04.2011

 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.