Feeds:
Bài viết
Phản hồi

“Hợp tác thực dụng” là cụm từ mà ông Obama dùng để miêu tả cho mối quan hệ của Hoa Kỳ với Trung Quốc mà ông theo đuổi. Ông đã nói như thế ở một cuộc họp tại Tokyo, trước khi đến Trung Quốc. Ba chủ đề chính trong quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington là kinh tế, chính trị và quân sự. Mỗi chủ đề đang được ông Obama theo đuổi bằng một tâm thế khác nhau nhưng cũng chỉ vì mục tiêu trên mà thôi.

Trong chủ đề kinh tế, nếu chú ý chúng ta sẽ thấy quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh đang ngày càng trở thành một mối quan hệ “môi hở răng lạnh”. Nếu Bắc Kinh đang là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ thì ngược lại Hoa Kỳ cũng chính là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Bắc Kinh. Trước khi nói những lời “ong bướm” với Bắc Kinh tại Singapore trong hội nghị APEC hay những tung hô khi đến Thượng Hải. Ông Obama đã không ngại “dằn mặt” Trung Quốc bằng việc áp dụng mức thuế chống phá giá đối với lốp xe Trung Quốc. Hành động đó không phải là lời tuyên chiến cho một cuộc chiến tranh thương mại mà nó chính là lời “nhắc nhở” để Trung Quốc nhớ về vai trò của thị trường Mỹ đối với nền kinh tế của Trung Quốc. Không chỉ đóng vai trò là thị trường quan trọng của Trung Quốc, khi Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất, có nhiều dự trữ đô la nhất, một hệ quả mà có lẽ Bắc Kinh chẳng muốn sau những nỗ lực phát triển kinh tế. Nên, vô hình trung đã làm Trung Quốc bị gắn chặt hơn vào quyền lợi kinh tế với Mỹ. Bởi vậy, không chỉ Washington phải nhún nhường Bắc Kinh. Mà Bắc Kinh cũng biết phải tự kiềm chế để cả hai cùng có lợi. Chắc chắn, ông Hồ Cẩm Đào cũng thừa hiểu thế nào là “hợp tác thực dụng”.

Ở chủ đề chính trị, Washington xem Bắc Kinh chính là yếu tố quan trọng để giải quyết hai câu chuyện dở dang mang tên Iran và Bắc Triều Tiên. Ở đây, chúng ta nên có một góc nhìn khác về Bắc Triều Tiên. Biết đâu cả Washington và Bắc Kinh đều chẳng muốn giải quyết ổn thỏa Bình Nhưỡng. Bởi chính những bất ổn của Bình Nhưỡng đang là lý do chính đáng để Washington đảm bảo được những ảnh hưởng nhất định đối với Tokyo và Seoul. Trung Quốc cũng vậy, đó cũng chính là chìa khóa để họ có tiếng nói hơn đối với Nhật Bản và Hàn Quốc. Cho nên, những thỏa thuận mà ông Obama mong muốn có được từ ông Hồ Cẩm Đào đối với Bắc Hàn đôi khi là ẩn số khó giải mà chỉ hai ông mới hiểu hết. Đối với vấn đề Iran, một “chìa khóa” quan trọng khác để mở cửa phòng hội đàm còn do ông Medvedev nắm giữ. Cho nên, sự đồng thuận nếu có được từ Washington và Bắc Kinh cũng vẫn cần tiếng nói từ điện Cẩm Linh. Còn sự giúp đỡ có thể có từ Trung Quốc dành cho Mỹ ở chiến trường Afghanistan cũng là điều chưa thể nói được gì nhiều. Bởi tiếng nói của Trung Quốc cũng chỉ có thể vang đến Islamabad chứ chưa đủ rền đến Kabul hay đến tai các tay súng Taliban. Tuy cần nhau đến thế, nhưng dân quyền vẫn là bài ca nằm lòng của bao đời tổng thống Mỹ. Và  ông Obama đã không quên nhắc về nhân quyền và dân chủ trước các sinh viên Trung Quốc tại hội trường đại học Phục Đán ở Thượng Hải.

Ở khía cạnh quân sự quốc phòng, chúng ta không biết ông Obama và ông Hồ Cẩm Đào sẽ chia sẻ được gì cho nhau. Nhưng, sau những hành động phô trương thanh thế quân sự của Trung Quốc, sau khi ông Tập Cận Bình ghé thăm Lầu Năm Góc để thảo luận hợp tác. Thì các tướng lĩnh cao cấp của Washington vẫn khẳng định sẽ tiếp tục các công việc tại vùng Thái Bình Dương. Ai cũng hiểu, quân sự chính là mặt yếu thế nhất của Trung Quốc hiện nay trước Mỹ, bởi hải quân và không quân của quân đội giải phóng Trung Hoa chỉ mới lượn lờ ở biển Đông, xa hơn thì đôi ba sứ mệnh chống cướp biển. Cho nên, Washington tất nhiên bằng mọi cách có thể sẽ luôn cố gắng khóa tay Trung Quốc càng lâu càng tốt. Chính vì thế, quân sự sẽ là chủ đề mà Hoa Kỳ có thể dùng để kỳ kèo cùng Trung Quốc.

Cuối cùng, Hoa Kỳ không cần thiết phải tạo mối quan hệ đối đầu với Trung Quốc mà nên là đối tác thì tốt hơn nhiều. Nhưng tất nhiên, đối tác ở đây cũng chỉ là những đối tác tìm kiếm mối “hợp tác  thực dụng” chứ khó có thể nói lời “nỉ hảo” như những hữu hảo của nhau.

Ngô Minh Trí

Giáo dục Việt Nam đang có khá nhiều bất cập và cũng không quá lời nếu dùng từ “khủng hoảng”. Nhưng cả báo cáo của nhóm được gọi là học giả Harvard và phản biện của giáo sư Koblitz, thì dường như cả hai đều bị ảnh hưởng quá nhiều vào yếu tố chính trị. Vì thế, người đọc cần phải có sự tỉnh táo của mình đối với cả hai.

Về báo cáo của Harvard

Trước khi bàn về báo cáo của Harvard, tôi nghĩ nên làm rõ một số vấn đề liên quan đến báo cáo này.

Báo cáo này được thực hiện bởi ông Thomas Valelly, giám đốc chương trình Việt Nam của viện ASH trực thuộc trường Chính sách công Kennedy tại đại học Harvard, và trợ lý là ông Benjamin H. Wilkinson nộp lên cho cấp trên của họ. Tức báo cáo được làm ra để nộp cho viện ASH. Một vấn đề mà chúng ta cần chú ý, đó là đa phần các chương trình mà ASH đang thực hiện có ngân sách từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Các cường quốc lớn trên thế giới hiện nay như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh Quốc thường tổ chức các chương trình kiểu như viện nghiên cứu, viện trao đổi văn hóa, viện đào tạo… nhằm tranh thủ thực hiện mục tiêu chính trị của mình. Chắc chắn, ngân sách các cường quốc dù nhiều đến đâu cũng chẳng bao giờ thừa mứa đến mức cho không các quốc gia khác. Chính vì thế, tác động chính trị trong những chương trình kiểu trên chắc chắn là không nhỏ.

Tìm hiểu sâu hơn, chúng ta thấy trường đào tạo chính sách công Kennedy chỉ là một trường trực thuộc đại học Harvard, viện ASH lại chỉ là một bộ phận trực thuộc trường Kennedy, rồi chương trình Việt Nam thì chỉ là một chương trình của ASH và chương trình này nhận ngân sách từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Bởi vậy, đặt Harvard làm thương hiệu cho báo cáo, thì chỉ như ánh hào quang tô điểm cho báo cáo để thêm phần long trọng hơn là giá trị thực của báo cáo.

Chúng ta, có thể không lệ thuộc vào tác động chính trị để phân tích báo cáo trên, nhưng chúng ta phải luôn thấy được sự hiện diện của nó trong báo cáo nhằm đánh giá xác đáng hơn. Việt Nam cần phát triển thì cần phải có những cái đầu tỉnh táo, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Tiếp theo, tôi xin phân tích phần báo cáo mà tôi tạm gọi là “báo cáo của Harvard”.

1. Phần thực trạng của báo cáo

Đầu tiên, tôi cho rằng các thực trạng mà báo cáo nêu ra thì đa phần là đúng, nhưng không mới. Chúng cũng không phải là một nghiên cứu có tính khám phá, mà đơn thuần mang tính tổng hợp. Bởi đa phần các thực trạng ấy đã được nhiều trí thức trong và ngoài nước nêu ra, các trí thức cũng đã nêu một cách chi tiết hơn nhiều so với báo cáo này.

Điển hình như trong nội dung phần “Quy mô của cuộc khủng hoảng”, các nội dung của nó đã được các báo chí trong nước đăng tải từ lâu. Như thông tin về việc tuyển dụng của Intel cũng đã từng được đề cập đến. Hay thống kê về các bài viết khoa học được xuất bản nhằm đánh giá chất lượng giáo dục, vốn dĩ đã được tiến sĩ Vũ Quang Việt (chuyên gia thống kê tại Hoa Kỳ) phân tích một cách chi tiết hơn rất nhiều trên một tạp chí trong nước, mà  tôi không nhớ rõ tên tạp chí, cách đây một vài năm.

Yếu tố mới duy nhất trong phần thực trạng chính là việc xem xét nguyên nhân lịch sử của tình trạng hiện tại. Thực sự, ảnh hưởng của Pháp gây ra như thế nào cho nền giáo dục Việt Nam là cả một vấn đề phức tạp, mà tôi nghĩ rằng rất khó có thể đánh giá xác đáng. Hơn nữa, nếu lấy mốc thời gian là 1954, thì đến nay cũng đã hơn nửa thế kỷ. Nên chúng ta không thể chọn đó làm yếu tố lịch sử cốt yếu. Chính vì việc không cần thiết phải đưa Pháp vào nguyên nhân có tính lịch sử, nhưng báo cáo vẫn đưa vào, điều đó làm tôi không khỏi ưu tư về sự đổ lỗi có động cơ chính trị của báo cáo.

Tóm lại, tôi nghĩ rằng “thương hiệu” Harvard đã giúp cho báo cáo này mang tính “giật gân”, thỏa mãn cho nhiều “cái đầu nóng” hiện tại trong và ngoài nước, hơn là tính hàn lâm. Tuy thế, tôi vẫn cho rằng chúng ta cần ghi nhận đa số, nhưng không tất cả, các thực trạng mà báo cáo nêu ra. Bởi dù sao thì đó vẫn là những thực trạng được đề cập từ lâu nhưng chưa giải quyết được.

2. Phần đối phó và kết luận của báo cáo

Phần đối phó mà báo cáo nêu ra gồm có ba mục lớn: các chính sách của chính phủ, trao đổi, các nhân tố quốc tế.

Thực ra, trong cả ba mục lớn trên của báo cáo cũng chỉ đánh giá các diễn biến mang tính hệ quả của thực trạng giáo dục chứ không phải là các đề xuất đối phó do người thực hiện báo cáo đề ra. Hơn nữa, chúng ta chỉ có thể xem hai nội dung: các chính sách của chính phủcác nhân tố quốc tế là phản ứng hệ quả đối với nền giáo dục. Còn mục Trao đổi của phần đối phó, theo tôi đó là diễn biến tất yếu ở mọi quốc gia khi xã hội phát triển. Ngay cả, Singapore là nước phát triển có nền giáo dục rất tốt, nhưng các gia đình giàu có vẫn đưa con sang du học tại Hoa Kỳ, Anh Quốc… Nên chúng ta không thể xem đó là phản ứng dành cho thực trạng giáo dục, bởi nó còn là xu hướng mang tính xã hội khi người dân giàu có hơn.

Khi đánh giá sâu hơn hai mục hệ quả, thì mục nhân tố quốc tế trong báo cáo cũng chỉ là một phần trong các chính sách của chính phủ. Như thế, phần đối phó đã có sự trùng lắp hai mục này với nhau.

Sau cùng, nhóm thực hiện báo cáo nêu ra đề xuất về một trường đại học hoàn toàn mới. Nối kết đề xuất này với các nội dung “PR” trước đó như: số lượng du học sinh đến Hoa Kỳ, các trường đại học Mỹ được săn tìm nhiều nhất… thì người đọc hiểu rằng trường đại học hoàn toàn mới mà báo cáo đề xuất sẽ mang mô hình đại học Hoa Kỳ. Đây là đề xuất mà chúng ta cần phải đánh giá rất kỹ lưỡng.

Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng một trường đại học như thế chỉ như “muối bỏ bể”, nó chỉ như một sản phẩm kiểu “Honda Việt Nam”, “Sony Việt Nam”. Tổ chức một trường đại học mới hoàn toàn thì chẳng có gì là khó, vấn đề là làm sao để nhân rộng mô hình và phát triển nó cho giáo dục đại học Việt Nam, nếu mô hình đó thực sự tốt. Hơn nữa, mô hình đại học Hoa Kỳ rất khó phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay. Ngay cả các quốc gia phát triển của châu Âu cũng chưa thể bê nguyên mô hình đại học Mỹ thì làm sao điều đó khả thi tại Việt Nam. Việc bê nguyên si một mô hình như thế chỉ có giá trị quảng bá nền giáo dục Hoa Kỳ nhiều hơn là tính thực tế của nó đối với nền giáo dục Việt Nam. Thêm vào đó, cách kết luận như thế của báo cáo hơi mâu thuẫn về mặt lý luận. Lúc đầu, phần kết luận nêu ra cần một thay đổi toàn diện, mang tính hệ thống, nhưng sau cùng lại đúc kết “cốt lõi” chỉ bằng việc xây dựng một cơ sở đại học hoàn toàn mới. Chúng ta cần chú ý, cơ sở đại học mới chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng thể tái cấu trúc nền giáo dục. Cho nên, lối lý luận như thế là có thể xem là hồ đồ, khiên cưỡng. Sự hồ đồ, khiên cưỡng ấy có thể xuất phát từ một thâm ý nào đó.

Ngoài ra, việc xây dựng nguyên si một cơ sở giáo dục hoàn toàn mới, cơ sở ấy rất dễ trở thành tiền đồn cho việc truyền bá chính trị. Đây là nguy cơ cần xem xét.

Tôi xin minh chứng cho nguy cơ trên bằng chương trình đào tạo thạc sỹ chính sách công Fulbright tại Việt Nam, đây có thể xem là một chương trình “kiểu mẫu” Hoa Kỳ. Điểm nổi bật nhất trong chương trình đào tạo này chính là các môn học liên quan đến khu vực công, các môn học này gần như chiếm gần hết chương trình đào tạo. Còn các môn học cơ bản như: kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, phương pháp định lượng thì vẫn sử dụng các tài liệu mà Việt Nam đang dùng tại các trường đại học trong nước và cũng do chính các giảng viên trong nước đảm nhiệm.

Các học phần của khu vực công này đều sử dụng các công cụ phân tích dựa trên nền tảng phân tích chính sách của Mỹ. Chúng ta thừa nhận nước Mỹ rất phát triển nhưng cơ sở lý luận chính sách công của họ muốn áp dụng được tại các quốc gia khác lại là vấn đề không đơn giản. Ngay cả một nước tư bản có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới như Nhật còn phải dùng các nền tảng lý luận chính sách của riêng họ, mà không thể rập khuôn theo lý luận của Mỹ. Vậy thì, chúng ta làm sao có thể áp dụng nền tảng lý luận của Mỹ vào Việt Nam trong một sớm một chiều. Hơn nữa, lý luận về chính sách gắn chặt với thể chế chính trị và chiến lược phát triển quốc gia. Nên cứ khăng khăng theo lối lý luận ấy rất dễ bị áp đặt về thể chế chính trị. Ngày trước, trong quá trình xây dựng và phát triển Singapore, ông Lý Quang Diệu cũng phải chắt lọc rất nhiều mới có được hệ thống lý luận cho riêng mình. Lấy ông Lý Quang Diệu làm điển hình, chúng ta cần hiểu rằng nếu muốn khai thác các kiến thức ấy hiệu quả, thì cần có những con người đủ tầm nhận thức, đủ tầm quan sát chiến lược để hiểu cần học gì và cần làm như thế nào. Ngược lại, nhiều người học không đủ tầm rất dễ sa đà vào cơ sở lý luận có tính đồng hóa ấy, để rồi tạo ra những sai lầm chết người.

Theo đó, chương trình kiểu mẫu như Fulbright đã mang vai trò truyền bá tư tưởng chính sách của Hoa Kỳ, quảng bá hình ảnh của Hoa Kỳ. Điều này cũng không có gì khó hiểu ở các chương trình “giao lưu” như thế của các nước lớn mà tôi nói ở trên, cho nên chúng ta càng cần phải cẩn trọng hơn. Đôi khi, chính những cơ sở đào tạo như thế vô tình khiến cho cuộc tranh luận  về sự phát triển của đất nước sa vào vũng lầy nhị nguyên tốt xấu, đẩy sự bất đồng quan điểm trong xã hội lên vượt tầm kiểm soát.

Vì vậy, việc xây dựng cơ sở đào tạo mới hoàn toàn theo cách mà báo cáo Harvard đề ra là không nên. Tôi khẳng định mình rất đề cao những giá trị của nước Mỹ nhưng tôi không đồng ý với bất cứ hình thức áp đặt nào mang tính “đồng hóa” của nước Mỹ hay các cường quốc khác, đặc biệt là “đồng hóa” về mặt giáo dục. Sau bài viết này, tôi sẽ có một bài viết phân tích để thấy rõ hơn ý đồ của các cường quốc qua các mô hình kiểu như Học Viện Khổng Tử, Trường Đào tạo Chính Sách Công. Cần có những cái “đầu lạnh” và đủ thông hiểu thì mới giải quyết được những “vấn đề nóng”. 

Chúng ta rất cần những mô hình đại học mới để phát triển nền giáo dục đang quá nhiều bất cập như hiện nay, nhưng muốn phát triển lâu dài thì cần phải có được một chiến lược cụ thể và phù hợp. Tất nhiên, chúng ta luôn cần tham khảo, học hỏi các mô hình đào tạo và các chiến lược giáo dục của các quốc gia phát triển. Nhưng không phải là sa đà, lệ thuộc.

Về phản biện của giáo sư Koblitz

Qua những gì giáo sư Koblitz đưa ra trong phản biện của mình, ta dễ dàng nhận ra mối “tư thù chính kiến” của ông với các lý luận của các học giả như Samuel Huntington, người có tác phẩm rất nổi tiếng là Sự va chạm giữa các nền văn minh và sự lập lại trật tự thế giới mới. Chính vì “tư thù chính kiến” ấy, đa phần phản biện của ông đã sa đà vào hùng biện chính trị và đã kích nền giáo dục Mỹ hơn là phản biện đúng nghĩa. Tình trạng này gần như chi phối toàn bộ phản biện của ông, vô hình chung làm cho phản biện của ông không có giá trị gì đáng kể, dù tâm huyết của ông đối với giáo dục Việt Nam là có. Đó cũng là lý do khiến tôi nghĩ không cần phải phân tích sâu vào phản biện của giáo sư Koblitz.

Chỉ một ý duy nhất trong phản biện của ông đáng để lưu tâm chính là sự tác động từ khu vực doanh nghiệp tư nhân và các tập đoàn công nghệ cao để nâng cao nền giáo dục trong nước. Thế nhưng, ý kiến này cũng được ngay chính các trí thức trong nước đề cập từ lâu nay. Đó là việc “thực tế hóa” công việc ngay từ quá trình đào tạo bằng cách tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các trường đại học với doanh nghiệp, đặc biệt cần chú trọng liên kết với các tập đoàn lớn để có thể khai thác hiệu quả các thành quả nghiên cứu trong nhà trường và nâng cao năng lực nghiên cứu.

Nhân ý này, tôi muốn đề cập đến việc nâng cao doanh trí cho các doanh nghiệp trong nước. Bởi doanh trí của các doanh nghiệp trong nước được nâng cao thì không những giúp cho việc khai thác hiệu quả hơn các sinh viên mới ra trường, mà còn tác động để sự phát triển của các trường đại học gắn liền với sự vận hành phát triển của đất nước.

Lời kết

Một lần nữa, tôi khẳng định nền giáo dục Việt Nam còn rất nhiều bất cập, trì trệ, có biểu hiện của sự khủng hoảng. Nên, chúng ta phải cấp bách đề ra một chiến lược phát triển giáo dục mang tính bức phá. Nhưng, giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, là nền tảng học thuật cho sự phát triển của đất nước. Do đó, chiến lược giáo dục mang tính bức phá ấy không chỉ cải cách sâu rộng mà cần phải nghiên cứu cẩn trọng đến các yếu tố kinh tế, xã hội nhằm đem đến hiệu quả tối ưu. Trong quá trình xây dựng và thực thi chiến lược phát triển đó, chúng ta cũng cần tránh những áp đặt mang tính chính trị, tuyên truyền mà phải có cái nhìn khách quan. Giáo dục phải trong sáng, gắn chặt với sự phát triển của đất nước. Như thế, giáo dục mới có thể là đòn bẩy để đất nước phát triển vững chãi.

Ngô Minh Trí

***Các bài viết liên quan:

Bài tranh luận của giáo sư Koblitz

Harvard bàn về khủng hoảng giáo dục Việt Nam (phần thực trạng)

Ứng phó thế nào với khủng hoảng giáo dục Việt Nam (phần ứng phó của “báo cáo”)

 

Cục Hải quan TP.HCM đã trả lời vụ “Trả giá chung chi” (Tuổi Trẻ ngày 31-10-2009) bằng cách đình chỉ công tác bảy công chức có liên quan đến chuyện này. Nhưng kèm theo đó là “mặt lạnh” của các công chức hải quan gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp (Tuổi Trẻ ngày 3-11).

Không rõ phản ứng “mặt lạnh” có nằm trong ý đồ của các cán bộ, nhân viên hải quan biến chất hay không, nhưng chắc chắn một lần nữa nó cho các doanh nghiệp hiểu rằng sẽ chẳng có lợi lộc gì nếu cố gắng phanh phui tiêu cực trong ngành hải quan. Trước mắt, các doanh nghiệp chỉ còn biết chờ đợi để trải qua những ngày nóng bỏng này. Họ chấp nhận thái độ “mặt lạnh” ấy như một điều tất yếu. Theo đó, sự chờ đợi chính là sự bất lực của các doanh nghiệp.

Không chỉ có các doanh nghiệp chờ đợi, ngay cả vị phó Ban chỉ đạo TP.HCM về chống tham nhũng cũng…chờ đợi. Trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, vị này cho rằng: “Bản thân mỗi người không chấp hành tốt thì cũng khó. Với số lượng lớn như vậy làm sao kiểm tra, kiểm soát từng người được” và “cứ phát hiện ai tiêu cực, vi phạm là xử lý nghiêm đối với người đó”.

Nhìn dưới góc độ nào đó thì ý kiến vừa nêu cho thấy Ban chỉ đạo về chống tham nhũng TP cũng chỉ biết chờ đợi, khi nào phát hiện tiêu cực thì xử lý. Điều đó đối với một cơ quan có trách nhiệm thanh tra, giám sát là đúng nhưng chưa đủ. Bởi trách nhiệm của một cơ quan kiểm tra, thanh tra, giám sát để phòng chống tiêu cực không chỉ là chờ để xử lý từng vụ việc mà phải chủ động đề ra biện pháp phòng tránh.

Ngay chính trong ngành hải quan, những tiêu cực trên không hề mới, nếu không muốn nói là thường xuyên bị phanh phui. Nếu như thế cũng chỉ tiếp tục chờ đợi xử lý khi đổ bể thì chẳng khác nào cơ quan này đã bất lực.

Từ lâu ai cũng hiểu chính sách và chủ trương luôn chống lại bất cứ tiêu cực nào. Nhưng chính sách và chủ trương về bản chất chỉ có ý nghĩa gợi mở và đó không thể là cơ sở nền tảng trực tiếp để đảm bảo cho những tiêu cực không xảy ra. Nền tảng cơ sở trực tiếp phải là những quy chế, biện pháp quản lý kiểm soát cụ thể, có tính khả thi để đảm bảo hạn chế được tối đa các tiêu cực. Đó còn là thước đo năng lực cho các cơ quan có trách nhiệm. Còn khi chúng ta không có được những quy chế, biện pháp cụ thể ấy thì chúng ta đang chờ đợi một cách bất lực trong việc chống tiêu cực.

Ngô Minh Tríđăng trên Tuổi Trẻ

Ngày 28-10, bà Angela Merkel chính thức tuyên thệ đảm nhận chức vụ thủ tướng Đức nhiệm kỳ hai. Nhưng dư vị ngọt ngào của chiến thắng một tháng trước dường như trôi qua nhanh khi bà phải sớm đối mặt với thách thức rất lớn phía trước.

Kết quả bỏ phiếu của Quốc hội Đức dự báo nhiều sóng gió sẽ nổi lên với bà. Chỉ có 323/612 phiếu ủng hộ bà vào ghế thủ tướng,  còn có đến 285 phiếu chống và bốn phiếu trắng. Tất nhiên, 323 vẫn nhiều hơn so với yêu cầu cần có là 312 phiếu.

Chuyện bỏ phiếu ở quốc hội còn chưa lắng thì kế hoạch cắt giảm thuế, một kế hoạch mà bà Merkel cho là tâm điểm để phục hồi nền kinh tế nhằm bắt đầu thời kỳ tăng trưởng mới, đã nhanh chóng vấp phải sự phản đối.

Theo kế hoạch, nước Đức sẽ cắt giảm thuế ồ ạt lên đến 24 tỉ euro (35,5 tỉ USD), và cùng với chính sách cắt giảm thuế, chính phủ mới của bà sẽ tăng chi tiêu cho y tế cộng đồng cùng nhiều chương trình xã hội khác.

Nước Đức lần này đang muốn đặt sự phục hồi lên hàng đầu trong những ưu tiên kinh tế của mình và hoãn lại việc cân bằng ngân sách đến năm 2013 để thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong nước bằng việc giảm thuế. Bà Merkel tỏ ra rất quyết tâm: “Tôi không thấy cơ hội thành công nào nếu chúng ta chỉ biết tiết kiệm và tiết kiệm, tiết kiệm”.

Tuy nhiên, khẳng định này chưa đủ làm yên lòng những chính trị gia khác. Tổng thống Horst Koehler đã nhanh chóng lên tiếng phản đối, cho rằng kế hoạch này sẽ khiến chính phủ của bà Merkel phải đối mặt với “những hi vọng tăng trưởng phi thực tế”.

Bộ trưởng tài chính vừa mãn nhiệm Peer Steinbrueck dự báo để thúc đẩy chi tiêu, chính phủ của bà Merkel sẽ phải vay nợ đến mức kỷ lục 329 tỉ euro (487 tỉ USD) vào năm 2010. Sự lo lắng này là có cơ sở, khi thâm hụt ngân sách của Đức năm nay có thể đến 3,9% GDP và con số này vào năm 2010 có thể đến 5,9% GDP.

Chuyên gia Jan Techau của Ủy ban Quan hệ đối ngoại Đức nhận định khả năng thành công của kế hoạch cắt giảm thuế là “rất khó, nếu không muốn nói là bất khả thi”.

Kỳ vọng vực dậy nền kinh tế bằng cách tăng chi tiêu và cắt giảm thuế của bà Merkel cũng đang khiến dư luận châu Âu “chia rẽ”. Thể hiện sự đồng tình của Pháp về chính sách giảm thuế để tăng tiêu dùng, báo Figaro viết: “Merkel I” là đáng phê phán, còn “Merkel II” là không thể chê trách.

Trong khi đó, Thủ tướng Luxembourg Jean – Claude Juncker, người đang là chủ tịch nhóm các bộ trưởng tài chính khu vực sử dụng đồng euro, lại cho rằng mức nợ của nước Đức đã quá mức chịu đựng. Ông e ngại kế hoạch của bà Merkel sẽ phá vỡ tính ổn định trong liên minh sử dụng đồng euro và kích động các quốc gia khác trong khối gia tăng những hành động đơn phương tương tự.

Trả lời phỏng vấn tờ báo thương mại hàng đầu của Đức Handelsblatt hôm 28-10, ông Juncker tỏ ra khá gay gắt: “Chính phủ mới của bà Merkel phải nhận ra việc này là không thể tiếp diễn… Làm thế nào lãnh đạo các nước Luxembourg, Bỉ hoặc Áo có thể thuyết phục dân chúng nước mình tuân thủ chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt khi mà Đức và Pháp lại không thực hiện điều đó?”.

Trong nhiệm kỳ trước, bà Merkel cũng bị chỉ trích ngay từ những ngày đầu là “phò Mỹ” khi lên tiếng ủng hộ cuộc chiến Iraq của tổng thống Bush (con). Nhưng xem ra những chỉ trích lần này đáng lo ngại hơn nhiều, vì bà phải lèo lái một nước Đức đang trong cơn suy thoái và vừa để vuột mất vị thế nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới vào tay Trung Quốc.

 Ngô Minh Tríđăng trên Tuổi Trẻ

Trong bài “Nhân vật thứ ba”, Tuổi Trẻ ngày 5-10-2009, tác giả Bùi Nguyên Hùng đặt vấn đề tại sao ở VN, các chính sách giáo dục hầu như chỉ tham khảo ý kiến của thành phần thứ nhất trong ba thành phần, trong khi ở các nước phát triển luôn có đủ, là: đại diện cơ quan đào tạo, người được đào tạo, thành phần trung lập trong xã hội.

Những năm gần đây chúng ta kêu gọi đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xem đó như một chiến lược cốt yếu để nâng cao giáo dục nước nhà, nhưng dường như nhiều người đang nhận thức sai triết lý cốt lõi của xã hội hóa giáo dục.

Triết lý của xã hội hóa giáo dục không đơn thuần chỉ là tổng hợp nguồn lực xã hội, mà giáo dục còn phải gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội, phải luôn song hành cùng nhu cầu của xã hội, cung cấp nhân lực cho xã hội phát triển.

Thực tế cho thấy chúng ta chỉ mới thực hiện tổng hợp nguồn lực xã hội thông qua việc đa dạng hóa mô hình trường học: tư thục, dân lập, bán công… Và chúng ta chỉ khai thác nguồn lực mà không có kế hoạch song hành dựa trên nhu cầu thực tế của xã hội, khiến các trường học chỉ chú tâm vào việc khai thác lợi nhuận. Bằng chứng là rất nhiều cảnh báo về việc trường mọc lên nhưng không đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên thì vay mượn theo kiểu “chạy sô”. Không chỉ thế, các ngành học mới liên tục xuất hiện mà tính cần thiết của chúng trở thành câu hỏi to tướng đối với xã hội.

Mới đây thôi, nhiều trường phải đóng cửa một số ngành học vì không có người học. Việc đóng cửa cũng nhanh như khi mở ra càng khiến nhiều người thắc mắc về tính nghiêm túc của các trường trong đầu tư chương trình đào tạo, nhân lực và cơ sở vật chất. Ngay cả chỉ tiêu tuyển sinh mà các trường đề ra có khả thi hay không cũng là ẩn số, bởi quá nhiều trường có điểm chuẩn bằng điểm sàn nhưng không có người nộp đơn xét tuyển.

Ngoài thiếu sót khi nhận thức về xã hội hóa, chúng ta còn đang định hình sai vai trò của người học. Thật ra xã hội mới là “khách hàng” cuối cùng của giáo dục, người học chỉ là “sản phẩm” của giáo dục. Nhưng nhiều trường lại xem người học là “khách hàng” để ra sức tận thu nhằm đạt lợi nhuận, trong khi “khách hàng” thật sự là xã hội thì không được quan tâm. Khi “khách hàng” xã hội không được quan tâm đồng nghĩa với việc các trường không xem “sản phẩm” – là người học – có đáp ứng được nhu cầu xã hội hay không. Vô hình trung công cuộc xã hội hóa giáo dục trở thành thương mại hóa giáo dục vì lợi nhuận là trên hết.

Tại các nước tiên tiến, khi thực hiện xã hội hóa giáo dục thì mục tiêu của họ chính là tạo ra sản phẩm “người học” có chất lượng cao để đáp ứng cho xã hội, còn các nguồn lực của xã hội thường là các mạnh thường quân, quỹ bảo trợ không đặt nặng vấn đề lợi nhuận. Vì thế, mọi chính sách đều phải có sự đồng thuận từ ba thành phần đã nêu.

Nếu chúng ta tiếp tục làm sai triết lý của xã hội hóa giáo dục thì cuối cùng quá trình xã hội hóa giáo dục không những không có lợi mà còn cực kỳ nguy hại. Khi đó, mọi chính sách giáo dục chỉ dựa trên quan điểm của “nhà cung cấp” là các trường, tất nhiên phần lợi chỉ thuộc về các nhà cung cấp, lợi ích của xã hội bị bỏ qua và giáo dục trở thành “thị trường” hỗn loạn.

NGÔ MINH TRÍ – đăng trên Tuổi Trẻ.

Sau khi dân châu Phi nhiều năm ca thán và thậm chí nổi loạn để chống lại những hệ lụy nguy hại do các công ty Trung Quốc gây ra trên châu lục này, chính phủ các nước châu Phi bắt đầu khó chịu và trở mặt với Trung Quốc.

Trước đây, khi giới đầu tư phương tây chán nản khi đối mặt với tham nhũng và sự yếu kém của hệ thống cơ sở pháp luật cùng năng lực quản lý hành chính ở nhiều nước thuộc châu Phi, Trung Quốc hăng hái nhảy vào khoảng trống đó để tìm kiếm tài nguyên và thị trường. Lúc đó Trung Quốc đã được chào đón nồng nhiệt. Các chính phủ châu Phi không chỉ “yêu quý” những khoản tiền mặt kết xù do các công ty Trung Quốc mang vào, mà họ còn đánh giá cao sự “biết điều” của Trung Quốc vì mọi thỏa thuận đều được bôi trơn bằng những món quà đắt tiền, và Trung Quốc không bao giờ thuyết giảng về dân chủ và nhân quyền.

Hơn 800 công ty quốc doanh Trung Quốc đang quản lý khoảng 900 dự án ở châu Phi, phần lớn trong số đó thuộc lĩnh vực dầu mỏ. Năm ngoái, kim ngạch mậu dịch song phương của Trung Quốc và châu Phi đã đạt 106,8 tỉ USD, gấp mười lần năm 2000 và gấp đôi năm 2006.

Gia chủ bắt đầu sợ vị khách tham ăn

Trong thời gian gần đây, châu Phi mạnh dạn từ chối các khoản đầu tư và các nhà vận động chính trị của Bắc Kinh. Mới tháng trước đây, Angola đã ngăn chặn khoản thầu trị  giá 1,3 tỉ USD từ hai doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc, là tập đoàn Dầu mỏ ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (Sinopec), đối với 20% cổ phần trong cụm 32, một khu vực khai thác dầu mỏ ngoài khơi Angola. Đây là cú tát mạnh đối với Bắc Kinh, bởi họ đã mua 18% lượng dầu mỏ từ Angola và Angola cũng là nhà cung cấp dầu ở nước ngoài lớn nhất của Trung Quốc.

Trước đó, Trung Quốc đã hào phóng cho chính quyền Luanda, của tổng thống Jose Eduardo dos Santos, những khoản vay lãi suất thấp và tham gia xây dựng những dự án cơ sở hạ tầng đường sắt và đường bộ rộng lớn. Nhờ đó, Angola trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc tại châu Phi với kim ngạch mậu dịch song phương lên đến 25,3 tỉ USD vào năm ngoái. Sau khi vượt qua cuộc nội chiến dài cả một thế hệ và thiết lập nên một hệ thống mị dân tinh vi, Tổng thống Jose Eduardo dos Santos tuồn hầu hết nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên vào dinh tổng thống. Bây giờ Santos hiểu rằng nếu không trông nom cẩn thận, toàn bộ tài nguyên tích luỹ được sẽ trôi theo những lời đường mật của các nhà kinh doanh Trung Quốc.

Vài ngày trước khi bị Angola phản đối, Trung Quốc đã vấp phải một cản trở khác, là Libya. Nhà cầm quyền Tripoly phủ quyết một khoản thầu trị giá 462 triệu USD của Sinopec đối vối công ty năng lượng Venerex Energy Inc, công ty này có trụ sở tại Calgary (Canada) nhưng khai thác chủ yếu tại Libya. Đề xuất này bao gồm cả khoản “lót tay” có tên gọi hoa mỹ là “lệ phí” trị giá 47 triệu USD Canada cho công ty dầu khí Libya. Nhưng chính quyền của đại tá Moammar Gadhafi quyết định họ muốn giữ lại Venerex lẫn khu vực khai thác 47 đã hứa giao cho họ.

Cũng trong thời gian đó, Trung Quốc gặp phải sự trì hoãn từ những người lãnh đạo không biết kiêng dè của Nigeria. Tập  đoàn CNOOC của Bắc Kinh hy vọng có thể đắc lợi từ một số khó khăn trong đàm phán gia hạn hợp đồng giữa Nigeria và các công ty phương tây như Royal Dutch Shell, Chevron, Exxon Mobil, bằng cách đề nghị mua 6 tỉ thùng dầu thô dự trữ của chính phủ Nigeria.

CNOOC tung tin rằng công ty họ đang trong cuộc thương thuyết kỹ lưỡng cùng bộ trưởng bộ dầu khí của Nigieria để lấy giấy phép của ba công ty phương tây kia. Tuy nhiên, mới tuần rồi, bộ trưởng dầu khí Nigeria, ông Odein Ajmogobia kiên quyết bác bỏ thông tin trên: “Đúng là người Trung Quốc có đưa ra một đề xuất mà chúng tôi đang cân nhắc. Họ đang hỏi mua sáu tỉ thùng dầu thô dự trữ của chúng tôi, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng chúng tôi sẽ không bán như họ muốn”.

Con dân cũng ghét thực khách của cha mẹ

Đã có những phản đối từ cộng đồng từ Nam Phi, qua Đông Phi, đến Nigeria và Tây Phi do những thiệt khủng khiếp cho ngành dệt địa phương và ngành sản xuất hàng tiêu dùng bởi sự tràn ngập hàng nhập khấu giá rẻ từ Trung Quốc.

Thợ mỏ và gia đình của họ tại Zambia, và tỉnh Katanga giàu khoán sản ở miền đông nam thuộc vùng biên giới Congo, phản đối để chống lại điều kiện làm việc như nô lệ cùng những tiêu chuẩn an toàn lao động quá tồi tệ ở những mỏ than do Trung Quốc điều hành. Người dân cũng xuống đường ở Zambia để phản đối việc công ty Trung Quốc thâu tóm các doanh nghiệp bán lẻ tại địa phương.

Một nguyên nhân khác của sự căng thẳng chính là việc các công ty Trung Quốc đang mua lại hoặc chiếm dụng các vùng đất nông nghiệp rộng lớn để gieo trồng thu hoạch nhằm cung cấp cho dân số đang tăng trưởng trong nước và đưa cả lao động người Hoa, có nguồn tin nói là có cả tù nhân trong đó, sang làm việc tại các nông trại.

Rốt cuộc châu Phi cũng phản ứng. Châu Phi đã biết chủ nghĩa thực dân như thế nào và chắc hẳn họ không mong muốn quay lại tình cảnh ấy lần nữa.

 Ngô Minh Trí (The Vancouver Sun)

Meg Whitman, người phụ nữ có ảnh hưởng lớn trong ngành công nghệ cao Mỹ, bắt đầu chạy đua vào ghế thống đốc bang California, với cam kết sẽ làm bang này phát đạt như eBay, nơi bà từng là CEO.

Hollywood đã đóng góp cho chính trường Mỹ hai chính trị gia nổi tiếng là Ronald Reagan, cựu tổng thống Mỹ, và “người hùng cơ bắp” Arnold Schwarzenegger, thống đốc bang California. Lĩnh vực thể thao cũng đem đến hai chính trị gia tên tuổi khác là ngôi sao bóng rổ Bill Bradley, cựu thượng nghị sỹ bang New Jersey, và vận động viên đô vật Jesse Ventura, nguyên thống đốc bang Minnesota…

Từ đó người ta dự đoán danh tiếng của các nhân vật nổi tiếng trong làng công nghệ Mỹ, cụ thể là bà Meg Whitnam cũng có thể đưa bà vào chính trường, mở ra kỷ nguyên ngôi sao công nghệ làm chính trị.

Bà Meg Whitman, cựu CEO của eBay, đang ra sức chứng minh những nhân vật tiếng tăm của ngành công nghệ cao sẽ là xu hướng tất yếu và đáng tin cậy trên chính trường Mỹ. Kịch tính hơn khi đối thủ chính của bà, ngay trong đảng Cộng hoà, là ông Steve Poizner cũng là một tỉ phú từ thung lũng Silicon. Theo nhận xét của cây bút phân tích chính trị Mark Z. Barabak trên tờ Los Angeles Times, bà Whitman là người nổi tiếng nhất trong những nhân vật của ngành công nghệ tham gia chính trường.

Thực tế, công nghệ đang ngày càng quan trọng hơn đối với các chính trị gia, sự am hiểu công nghệ cũng là cách để thu hút phiếu bầu. Trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm trước, ứng viên Obama cố gắng thể hiện hình ảnh của một ứng viên thành thạo công nghệ khi chiếc BlackBerry trở thành vật bất ly thân bên mình. Trong cuộc đua tại California lần này, ngoài hai đại diện là Whitman và Poizner, ngành công nghệ cao còn đóng góp các tên tuổi khác bên đảng Dân chủ. Điển hình là thị trưởng Gavin Newsom của thành phố San Francisco, người mà gần đây đã giới thiệu một trình ứng dụng cho thành phố trên mạng xã hội Mashable. Trang Twitter của ông có hơn một triệu người theo dõi.

Bà Whitman, năm nay 53 tuổi, được xem là người biến eBay từ một doanh nghiệp 4 triệu USD trở thành công ty toàn cầu trị giá 8 tỉ USD. Vì lẽ đó, bà tin rằng với khả năng lèo lái của bà sẽ giúp bang California vượt qua những khó khăn kinh tế hiện tại. Bà xem đây là thời điểm mình cùng bang California “thăng hoa” như đã từng đạt được với eBay. Bà Whitman tỏ ra khá tin tưởng vào vai trò của ngành công nghệ cao sẽ tạo ra hàng triệu việc làm. Chính sách hoà hợp các đơn vị và cởi bỏ một số ràng buộc của ngành công nghệ được cho là sẽ giúp bà có nhiều phiếu bầu từ Silicon hơn.

Nhưng Allan Hoffenblum, chiến lược gia của đảng Cộng hoà cho rằng bà Whitman không phải là đại diện điển hình những người Cộng hoà thực dụng.

Ngoài ra, sai lầm của bà lúc còn làm tại eBay đã mua Skype với giá 2,6 tỉ USD, trong khi giá trị sau đó của Skype chỉ đáng 900 triệu USD, có thể xem là một vết nhơ trong sự nghiệp lãnh đạo của bà.

Thêm vào đó, Allan Hoffenblum nhận xét dù bà Whitman làm được nhiều điều phi thường với một trí tuệ phi thường nhưng bà không có ảnh hưởng bên ngoài ngành công nghệ. Trong khi đó, ông Poizner sau khi bán công ty Snap Trak của mình cho Qualcomm, đã trở thành uỷ viên bảo hiểm bang California như một bước đệm vào chính trường.

Có thể điều đó khiến cho bà Whitman có tỷ lệ ủng hộ kém ông Poizner khá xa. Chỉ có 14% ủng hộ bà, so với 78% của Poinzer trong một cuộc thăm dò không đáng kể tại đại hội đảng Cộng hoà ở California.

Điều bà Whitman có thể hy vọng, theo Hoffenblum là phụ nữ và kỹ nghệ cao luôn là hai khối phiếu bầu mạnh mẽ tại California. Bà Whitman hội đủ cả hai điều ấy. Nếu bà đắc cử, bà Whitman sẽ là người tiên phong cho giới công nghệ cao chinh phục chính trường Mỹ.

Ngô Minh Trí (tổng hợp) – đăng trên SGTT

Nếu phát ngôn của ông trưởng phòng Giáo dục tiểu học cho thấy sự yếu kém về mặt quản lý. Thì phát ngôn của ông hiệu trưởng Đại học Hồng Bàng lại phơi bày một tư duy háo danh trong giáo dục. Những thực trạng ấy còn tiếp tục tồn tại, thì chắc chắn, chúng cùng dẫn đến một hệ lụy duy nhất là chất lượng giáo dục ngày càng đi xuống.

Đọc phần trả lời của ông Lê Ngọc Điệp, trưởng phòng Giáo dục tiểu học Sở Giáo dục – Đào tạo Tp.HCM, người ta cảm nhận ông rất thông hiểu cho phụ huynh về nỗi bức xúc, khi con trẻ mới nhập học lớp một bị đánh mắng vì… chưa biết chữ. Ông gần như khẳng định lỗi này không thuộc về phụ huynh và “nếu là phụ huynh, tôi cũng phải cho con học trước”.

Lỗi trên không thuộc về phụ huynh thì đã quá rõ ràng!

Nhưng, là lãnh đạo cao nhất của giáo dục tiểu học thành phố, mà ông cũng “cam chịu” như các phụ huynh khác, dù biết đó là sai, thì xem ra không ổn. Bên cạnh sự “cam chịu”, ông Điệp cũng thanh minh “thật khổ tâm quá, phòng giáo dục tiểu học không thể đi kiểm tra hết các trường học”, tức không thể đổ lỗi cho cấp lãnh đạo cao nhất như ông.

Nếu một nhà lãnh đạo biết những tiêu cực mà đành “sống chung” với tiêu cực và không xem đó là lỗi của mình, thì rõ ràng người ta không thể trông chờ gì vào sự đóng góp của lãnh đạo đó. Đáng buồn hơn khi xảy ra với một lãnh đạo cho công cuộc xây dựng “tương lai của nước nhà”.

Cùng lúc xảy ra những bức xúc của phụ huynh lớp một, thì bức xúc của một số tân sinh viên cũng đang khiến dư luận quan tâm.

Năm học này, nhiều tân sinh viên của trường Đại học Quốc Tế Hồng Bàng rất bức xúc với các khoản thu của trường. Đại học Quốc Tế Hồng Bàng tỏ ra rất “sáng tạo” với những khoản thu như đồng phục, cặp xách, mũ bảo hiểm… Ông Nguyễn Mạnh Hùng, hiệu trưởng nhà trường, lý giải những khoản đồng phục, cặp xách, mũ bảo hiểm là để “tạo phong cách quốc tế” và đấy là “biểu tượng tốt trong giới đại học quốc tế”.

Tư duy trên của ông Hùng không thể không xem là tư duy háo danh, với thực tế là  trường ĐH Hồng Bàng chưa thuộc nhóm trường đại học dẫn đầu của Việt Nam, Việt Nam cũng chưa có trường nào trong top 200 ĐH hàng đầu của thế giới. Trong các bảng xếp hạng có uy tín về thứ bậc các trường đại học trên thế giới, dường như chúng ta không thấy các điều khoản về đồng phục hay mũ bảo hiểm. Chất lượng đào tạo mới chính là trọng tâm và là tiêu chuẩn cốt lõi để đánh giá một trường đại học. Chất lượng một trường đại học cũng không hề song hành với danh xưng “quốc tế” tự gắn hay có đồng phục “phong cách quốc tế”.

Nếu sinh viên tự hào về chất lượng của trường mình đang học, chắc chắn họ sẽ không ngần ngại thể hiện sự tự hào bằng cách khoát lên mình những bộ đồng phục ấy. Ngược lại, khi nhà trường bắt buộc sinh viên phải mua để tạo “phong cách” thì sự tự hào đang biến thành gánh nặng và sự gượng ép. Nếu người hiệu trưởng, chỉ quan tâm trước nhất đến “phong cách”, đảm nhiệm chức vụ trong 10 năm, mỗi năm trường có khoản 6.000 sinh viên. Thì xã hội có gần 60.000 con người được đào tạo trong một môi trường giáo dục mà “phong cách” là tiêu chí nhập môn.

Theo đó, ở một nền giáo dục còn có những cấp quản lý yếu kém, cũng như hiệu trưởng trường đại học mang nặng tư tưởng háo danh, thì người ta không thể mong chờ chất lượng đào tạo của nền giáo dục ấy.

Ngô Minh Trí

Các cơ quan báo chí đã phát động một chương trình tuyên truyền người Việt dùng hàng Việt khá thành công. Thế nhưng, một kế hoạch hành động từ phía chính phủ mới chính là thắt gút của vấn đề. Và đất nước đang mong chờ kế hoạch ấy.

Sau một thời gian phát động với sự tham gia đông đảo của các cơ quan báo chí. Chủ đề người Việt dùng hàng Việt đã nhận được khá nhiều ý kiến giá trị từ nhiều thành phần xã hội như người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà bán lẻ, các chuyên gia… Nhiều vấn đề đã được mổ sẻ chi tiết từ khâu sản xuất, phân phối, marketing đến cả các bất cập trong cấu trúc chi phí. Kèm theo đó là những tranh luận rằng cần phải bắt đầu từ đâu, người tiêu dùng hay nhà sản xuất hay cả cơ quan hữu quan. Với tất cả những kết quả đó, xét về mặt tuyên truyền, ấy là thành công!

Thế nhưng, sau chương trình này sẽ là gì? Hàng Việt có đủ sức chinh phục người tiêu dùng Việt, xa hơn là người tiêu dùng nước ngoài hay không, chinh phục như thế nào và khi nào chinh phục được? Vị thế hàng Việt sẽ nâng lên đến đâu? Đâu là lợi thế cạnh tranh của hàng Việt?… rất nhiều câu hỏi cần trả lời.

Để trả lời được những câu hỏi ấy và đạt được một kết quả cụ thể thì hàng Việt cần phải có một kế hoạch hành động chi tiết và khả thi.

Ở mức độ cơ quan báo chí, các cơ quan báo chí chỉ có thể tổng hợp ý kiến, thông tin và phản ánh xã hội. Ở vị trí là nhà kinh doanh, các doanh nghiệp chỉ có thể nỗ lực cho công việc kinh doanh của mình. Ở khía cạnh người tiêu dùng, người tiêu dùng có thể có ý thức hơn trong việc chọn lựa hàng Việt, nhưng bấy nhiêu chưa đủ để họ quyết định mua hàng Việt. Các chuyên gia cũng chỉ dừng lại ở phạm vi đóng góp ý kiến.

Trong khi đó, vấn đề hàng Việt lại là yếu tố sống còn, lâu dài và là vấn đề chung cho nền kinh tế của đất nước, ý nghĩa có nó đối với đất nước đã quá rõ ràng. Chính vì vậy, kế hoạch hành động kia cần phải xuất phát từ chính phủ, nơi đứng mũi chịu sào cho việc phát triển kinh tế đất nước. Phải là chính phủ và bằng một kế hoạch hàng động thì mới có thể hợp sức tất cả các thành phần, để đi đến kết quả thành công cuối cùng cho hàng Việt.

Cụ thể hơn, đầu tiên là việc tập trung những kết quả có được từ chương trình phát động. Chính phủ tiếp tục tổ chức cho các thành phần liên quan, đặc biệt là các chuyên gia giỏi, đóng góp và hình thành một kế hoạch hành động cụ thể theo mong muốn. Trong kế hoạch ấy, từng thành phần liên quan sẽ đóng vai trò gì và thực thi như thế nào, mục tiêu của kế hoạch là gì, đâu là thước đo để đánh giá sự thành công… Sau khi có một kế hoạch khả thi làm cơ sở. Theo đó, chính phủ sẽ định hướng cho toàn đất nước nỗ lực phát triển hàng Việt một cách bài bản.

Những định hướng ấy là cần thiết, tất nhiên đã nhận được đủ các ý kiến đóng góp, phản biện. Như thế mới chính là những lúc xã hội cần sự định hướng của chính phủ, cũng qua đó mới có thể đánh giá được hiệu quả của chính phủ.

Ngô Minh Trí

Tại Việt Nam, người giàu mới phất lên ngày càng nhiều, kèm theo đó là sự xuất hiện của những chiếc ô tô sang trọng, những thương hiệu đỉnh cao, nuôi thú hiếm, đến máy bay riêng. Nhưng, sự phát triển của một đất nước không hề tỷ lệ thuận  với số lượng đại gia hay sự giàu có của các đại gia.

Hai chữ đại gia vốn được dùng để chỉ chung cho lớp người nhiều tiền trong xã hội. Khác với phương Tây, đại gia của Việt Nam chỉ có hai nhóm người: thứ nhất là doanh nhân, thứ hai là quan chức, còn quý tộc thì xem như không còn. Nếu giới đại gia ngày càng nhiều hơn ở nhóm thứ hai thì có lẽ đất nước chẳng những không phát triển, mà chỉ có nghèo đi. Cho nên, sự phát triển chỉ còn chờ vào nhóm thứ nhất, tức nhóm doanh nhân.

Giới doanh nhân Việt Nam ngày nay đang có: xe hơi xịn, rượu thượng hạng, trang sức đắt tiền nhất, cơ dinh hoành tráng đến cả nuôi cọp, gấu… thì giới thương buôn, điền chủ Việt Nam cách đây nửa thế kỷ cũng từng có. Nhưng trong quá khứ và cả ngày nay, những thứ ấy không đóng góp gì nhiều vào sự phát triển của đất nước. Bởi sự giàu có của các đại gia chỉ thực sự ý nghĩa khi nó song hành cùng sự phát triển của đất nước. Còn nếu sự giàu có ấy đến từ sự tập trung tài sản, tạo phân cực xã hội sẽ tạo ra nhiều bất ổn xã hội hơn.

Một tỷ phú nước ngoài từng tổng kết rằng có ba cách để làm giàu: đầu cơ, lũng đoạn và sáng tạo. Sáng tạo ở đây không cứ bắt buộc phải tạo ra được những sản phẩm vĩ đại kiểu như Windows, Yahoo, Google… Mà sáng tạo có thể là biết tổ chức, phát triển các doanh nghiệp bằng cách tạo ra những sản phẩm tốt hơn, hữu ích hơn cho mọi người, góp phần nâng cao trình độ chung về công nghệ, sản xuất… cho đất nước, cho xã hội. Cả việc mua lại các doanh nghiệp thua lỗ để hoàn thiện, nâng cao khả năng cạnh tranh hay đầu tư lâu dài như tỷ phú Warren Buffitt cũng xem là sáng tạo.

Làm giàu bằng sáng tạo thì mới sát cánh cùng xã hội. Còn hai cách kia, chỉ lợi cho một nhóm người còn xã hội chỉ nhận được chủ yếu là “hại”. Ngay cả những khoản từ thiện của các đại gia, giàu từ đầu cơ và lũng đoạn, có giá trị đến đâu cũng không bằng cái hại do họ gây ra.

Tháng trước, một bài báo đặt ra vấn đề: “Việt Nam thiếu những doanh nghiệp Thánh Gióng”. Lâu hơn, một chuyên gia nước ngoài từng thẳng thừng nhận xét Việt Nam chẳng có thương hiệu hay doanh nghiệp nào đạt tầm quốc tế. Sau 35 năm kết thúc chiến tranh thì Nhật đã có Sony, Honda, Toyota… hay Singapore cũng có Singapore Airline, Temasek danh tiếng. Nay Việt Nam cũng kết thúc chiến tranh gần 35 năm nhưng…

Theo đó, giới kinh doanh Việt Nam dù có thể có tài sản kết xù nhưng tầm vóc thì vẫn còn “quanh quẫn trong ao làng”.

Thực tế đó là hiển nhiên, bởi nhìn lại các đại gia “đỉnh đỉnh đại danh” của Việt Nam thì đa phần sự giàu có đều xuất phát từ những phi vụ đầu cơ bất động sản, khai thác tài nguyên hay những áp phe mang tính tức thời. Tất nhiên, để làm được như thế thì họ cũng cần phải có chí tiến thủ và mưu lược kinh doanh hơn hẳn nhiều người, chứ không phải chỉ là may mắn. Thế nhưng, cũng rất đáng buồn khi những dự án mang tính bức phá, sáng tạo thì dường như chỉ le lóa và chưa bùng nổ để tạo ra thành công vang dội.

Tại sao như vậy? Đó là vì doanh trí của lớp doanh nhân ta chưa cao. Doanh trí của doanh nhân được đánh giá qua việc làm giàu nhờ vào sự sáng tạo như đã nói. Và chỉ có lớp doanh nhân có doanh trí như thế thì mới đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước.

Chính vì vậy, mọi người, đặc biệt là doanh nhân, cần hiểu chỉ doanh trí mới đóng góp thực sự cho xã hội chứ không phải doanh nhân.

Ngô Minh Trí – đăng trên Tuổi Trẻ

(*) Nhân chuyện “cọp, gấu” của các đại gia mà viết nên bài này.

Bài viết cũ hơn »